Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, giữ ba mức thuế suất: 0%, 5% và 10%. Mức 0% dành cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và một số hoạt động gắn với nước ngoài; mức 5% dành cho một danh sách hàng hoá, dịch vụ thiết yếu được luật liệt kê cụ thể; còn 10% là mức mặc định — thứ gì không nằm trong danh sách 0%, 5% hay danh sách không chịu thuế thì áp dụng 10%.
Vì vậy câu hỏi đúng không phải là “hàng của mình mức bao nhiêu” mà là “hàng của mình có tên trong danh sách nào không”. Đi theo thứ tự: tra danh sách không chịu thuế, rồi danh sách 0%, rồi danh sách 5%; không thấy ở đâu thì là 10%. Ngoài ba mức này còn có chính sách giảm 2% cho một số nhóm theo nghị quyết của Quốc hội — đó là giảm tạm thời theo từng đợt, không phải một mức thuế suất thứ tư.
Mức 10% là mức còn lại, không phải mức “thông thường”
Nhiều người nghĩ 10% là mức áp cho hàng “bình thường” và 5% cho hàng “thiết yếu”, rồi tự phán đoán mặt hàng của mình thiết yếu hay không. Cách nghĩ đó dễ sai. Luật không định nghĩa “thiết yếu” rồi để người nộp thuế tự suy; luật liệt kê tên từng nhóm được áp 5%. Một mặt hàng rất cần thiết cho đời sống nhưng không có tên trong danh sách vẫn chịu 10%.
Hệ quả thực tế: khi bán một sản phẩm mới, người lập hoá đơn phải đi tìm tên nhóm hàng trong văn bản, không phải hỏi “mặt hàng này có quan trọng không”. Nếu không tìm thấy căn cứ rõ ràng để áp 0% hay 5%, cách an toàn là áp 10% và hỏi cơ quan thuế quản lý bằng văn bản khi còn phân vân.
Chiều ngược lại cũng quan trọng: áp 10% cho hàng đáng lẽ 5% không phải là “nộp dư cho chắc”. Người mua là doanh nghiệp sẽ kê khai khấu trừ theo số trên hoá đơn, người mua là người tiêu dùng trả giá cao hơn cần thiết, và khi phát hiện thì hai bên phải xử lý hoá đơn sai sót.
Mức 0%: hàng hoá, dịch vụ đi ra nước ngoài
Mức 0% gắn với xuất khẩu: hàng hoá bán ra nước ngoài, bán vào khu phi thuế quan; dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; vận tải quốc tế và một số hoạt động gắn với xuất khẩu khác mà luật liệt kê. Ý tưởng là không “xuất khẩu thuế” — hàng rời Việt Nam thì không mang theo thuế GTGT của Việt Nam.
Điểm cần nhớ là 0% có điều kiện về hồ sơ. Không phải cứ khách hàng là người nước ngoài thì được 0%. Thông thường phải có hợp đồng, chứng từ thanh toán qua ngân hàng hoặc hình thức không dùng tiền mặt được chấp nhận, và với hàng hoá là chứng từ xuất khẩu theo quy định hải quan. Thiếu một mắt xích, hàng vẫn đi nhưng thuế suất có thể bị xác định lại.
Dịch vụ là chỗ dễ nhầm nhất. Một dịch vụ ký với công ty nước ngoài nhưng thực hiện và tiêu dùng tại Việt Nam (ví dụ phục vụ khách của họ đang ở Việt Nam) thường không được coi là xuất khẩu. Luật có danh sách các trường hợp không áp dụng 0% dù có yếu tố nước ngoài — phải đọc danh sách loại trừ này trước khi xuất hoá đơn 0%.
Mức 5%: danh sách thiết yếu được gọi tên
Mức 5% áp cho các nhóm hàng hoá, dịch vụ mà luật gọi tên cụ thể. Những nhóm quen thuộc gồm nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt, thuốc phòng và chữa bệnh, thiết bị y tế, giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, một số sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi chưa qua chế biến ở khâu kinh doanh thương mại, cùng một số vật tư, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Danh sách đầy đủ và phần mô tả chi tiết từng nhóm nằm trong Luật 48/2024/QH15 và nghị định hướng dẫn.
Ba điểm hay làm người đọc hiểu sai:
- Tên nhóm có phạm vi. “Thiết bị y tế” hay “giáo cụ” không có nghĩa là mọi thứ dùng trong bệnh viện hay trường học. Văn bản hướng dẫn thường giới hạn bằng mô tả, bằng danh mục của cơ quan chuyên ngành hoặc bằng điều kiện đi kèm.
- Cùng một mặt hàng, khác khâu thì khác cách xử lý. Nông sản chưa chế biến do người sản xuất tự bán, do doanh nghiệp bán cho doanh nghiệp khác ở khâu thương mại, và bán lẻ cho người tiêu dùng có thể rơi vào ba cách xử lý khác nhau. Đọc kỹ điều khoản cho từng khâu.
- Chế biến làm đổi nhóm. Sản phẩm đã qua chế biến thành hàng khác thì thường ra khỏi nhóm “chưa qua chế biến” và phải tra lại từ đầu.
Trong đợt sửa luật 2024, một số mặt hàng trước đây thuộc diện không chịu thuế đã được đưa vào nhóm 5%. Nếu doanh nghiệp đang dùng danh mục hàng hoá thiết lập từ trước năm 2025 trong phần mềm bán hàng, cần rà lại cột thuế suất của từng mã hàng.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
Bảng dưới gom cách xác định mức cho từng nhóm. Cột cuối là nơi nên mở ra đọc khi cần chắc chắn, vì danh sách chi tiết có thể được hướng dẫn bổ sung.
| Nhóm | Căn cứ tính thuế | Mức | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu; vận tải quốc tế; các trường hợp luật liệt kê | Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế; phải có hồ sơ xuất khẩu, chứng từ thanh toán | 0% | Luật 48/2024/QH15, phần thuế suất 0% và danh sách không áp dụng 0%; Nghị định 181/2025/NĐ-CP |
| Nhóm thiết yếu được gọi tên (nước sạch, thuốc, thiết bị y tế, giáo cụ, một số vật tư nông nghiệp…) | Giá bán chưa có thuế | 5% | Luật 48/2024/QH15, phần thuế suất 5%; nghị định hướng dẫn phần mô tả nhóm |
| Mọi hàng hoá, dịch vụ không thuộc các nhóm trên và không thuộc diện không chịu thuế | Giá bán chưa có thuế | 10% | Luật 48/2024/QH15; kiểm tra thêm nghị quyết giảm thuế đang hiệu lực |
| Hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế | Không tính thuế đầu ra; thuế đầu vào không được khấu trừ | Không áp mức | Luật 48/2024/QH15, danh sách đối tượng không chịu thuế |
Với doanh nghiệp kê khai theo phương pháp khấu trừ, số thuế đầu ra của một dòng hàng bằng giá tính thuế nhân thuế suất. Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT, gồm cả phụ thu, phí thu thêm mà người bán được hưởng. Hàng cho, biếu, tặng, trao đổi, tiêu dùng nội bộ có quy tắc riêng về giá tính thuế — không phải cứ không thu tiền là không có thuế.
Một hoá đơn, nhiều mức thuế suất
Cửa hàng vật tư nông nghiệp bán cùng lúc phân bón, dụng cụ cầm tay và túi đựng; nhà thuốc bán thuốc cùng mỹ phẩm và đồ dùng cá nhân. Một lần bán như vậy có thể chứa ba mức thuế suất.
- Tách dòng theo thuế suất. Mỗi mặt hàng một dòng với thuế suất của chính nó. Không lấy mức của mặt hàng chính áp cho cả đơn.
- Khuyến mại, chiết khấu phân bổ đúng dòng. Chiết khấu cho cả đơn phải chia về từng dòng theo tỷ lệ, vì mỗi dòng có thuế suất khác nhau. Trừ chiết khấu vào một dòng duy nhất làm lệch số thuế.
- Hàng bán kèm. Quà tặng kèm, bao bì tính tiền riêng, phí giao hàng thu thêm: mỗi thứ xác định thuế suất theo bản chất của nó, trừ khi văn bản hướng dẫn cho phép theo mặt hàng chính.
- Danh mục mã hàng trong phần mềm. Thuế suất nên gắn cố định vào từng mã hàng và chỉ người phụ trách thuế được sửa. Để nhân viên bán hàng tự chọn thuế suất trên màn hình là nguồn sai lệch khó truy nhất.
Những bẫy khi đọc danh mục thuế suất
- Đọc bài viết cũ. Danh sách 5% và danh sách không chịu thuế đã thay đổi khi Luật 48/2024/QH15 có hiệu lực. Bài hướng dẫn viết trước tháng 7/2025 có thể xếp một mặt hàng vào nhóm không còn đúng.
- Nhầm thuế suất với mức sau giảm. Hàng đang áp 10% và thuộc diện được giảm 2% thì hoá đơn thể hiện mức sau giảm. Nhưng thuế suất theo luật của mặt hàng vẫn là 10%; hết thời hạn giảm thì quay lại 10%.
- Lấy tên thương mại thay cho bản chất. Sản phẩm quảng cáo là “thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị” không vì thế mà thành thuốc. Căn cứ là phân loại theo quy định chuyên ngành, không phải nhãn quảng cáo.
- Chép thuế suất của nhà cung cấp. Nhà cung cấp xuất hoá đơn mức nào không đảm bảo mức đó đúng. Khi bán lại, người bán tự chịu trách nhiệm về thuế suất trên hoá đơn của mình.
- Dịch vụ có yếu tố nước ngoài. Ký với bên nước ngoài chưa đủ để áp 0%; phải xét nơi tiêu dùng dịch vụ và danh sách loại trừ.
Tự kiểm tra thuế suất đang dùng ở đâu
Không cần thuê ai để biết doanh nghiệp đang áp thuế suất gì; dữ liệu có sẵn:
- Cổng hoá đơn điện tử của cơ quan thuế: tải danh sách hoá đơn đầu ra theo tháng, lọc theo cột thuế suất. Mặt hàng nào đang xuất nhiều mức khác nhau là chỗ cần rà.
- Tài khoản thuế điện tử của doanh nghiệp: xem tờ khai GTGT đã nộp, doanh thu được tách theo từng mức thuế suất. Đối chiếu với báo cáo bán hàng cùng kỳ.
- Văn bản gốc: Luật 48/2024/QH15 và Nghị định 181/2025/NĐ-CP, tra đúng tên nhóm hàng. Gặp mặt hàng mới, chưa rõ nhóm thì gửi câu hỏi bằng văn bản cho thuế cơ sở quản lý hoặc Thuế tỉnh, thành phố.
Nếu cần hướng dẫn kê khai từng dòng doanh thu theo thuế suất trên tờ khai, xem thêm phần khai thuế GTGT trên Cổng Thuế.
Câu hỏi thường gặp
Mặt hàng không có tên trong danh sách 5% nhưng rất thiết yếu thì có được áp 5% không?
Không. Mức 5% chỉ áp cho nhóm được luật và văn bản hướng dẫn gọi tên. Mặt hàng không có tên trong danh sách 5%, không thuộc 0% và không thuộc diện không chịu thuế thì áp 10%.
Bán hàng cho khách nước ngoài đang du lịch tại Việt Nam có được 0% không?
Thông thường là không, vì hàng được giao và tiêu dùng tại Việt Nam, không phải xuất khẩu. Người nước ngoài mua hàng mang ra khỏi Việt Nam có cơ chế hoàn thuế riêng, được hướng dẫn tại Thông tư 84/2026/TT-BTC, khác với việc người bán xuất hoá đơn 0%.
Hoá đơn ghi nhầm 10% cho hàng 5% thì xử lý thế nào?
Đây là sai sót về thuế suất, xử lý bằng hoá đơn điều chỉnh hoặc thay thế theo quy định về hoá đơn điện tử đang hiệu lực. Nên báo người mua trước, vì họ đã kê khai thuế đầu vào theo hoá đơn cũ và cũng phải điều chỉnh theo.
Doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp có dùng ba mức này không?
Không trực tiếp. Doanh nghiệp theo phương pháp trực tiếp tính thuế bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu theo nhóm ngành, không nhân giá bán với 0%, 5%, 10%. Mức tỷ lệ theo ngành phải tra ở văn bản hướng dẫn hiện hành.
Phí vận chuyển thu thêm của khách áp thuế suất nào?
Phí giao hàng mà người bán thu thêm và được hưởng thường được tính vào giá tính thuế của hàng bán. Nếu vận chuyển là một dịch vụ tách riêng thì xác định thuế suất theo dịch vụ đó. Cách thể hiện trên hoá đơn nên thống nhất và giữ căn cứ.
Phần mềm bán hàng tự gợi ý thuế suất thì có tin được không?
Chỉ nên coi là gợi ý. Thuế suất gợi ý thường lấy từ dữ liệu cũ hoặc từ tên hàng, không biết mặt hàng đã chế biến hay chưa, bán ở khâu nào. Người phụ trách thuế nên duyệt và khoá thuế suất cho từng mã hàng.