ThueSuat.comThuế Suất
Thuế suất GTGT

Hàng không chịu thuế GTGT và hàng chịu thuế 0%: khác nhau ở quyền khấu trừ

Trên hoá đơn, hàng không chịu thuế và hàng chịu thuế suất 0% đều không có tiền thuế đầu ra, nhưng hậu quả với thuế đầu vào thì trái ngược. Bài này giải thích bằng ví dụ giả định, chỉ cách phân bổ khi doanh nghiệp có cả hai loại và những lỗi hay gặp trên hoá đơn.

Kế toán và giám đốc so sánh hai xấp hoá đơn mua vào trong phòng họp nhỏ

Hàng không chịu thuế GTGT và hàng chịu thuế suất 0% nhìn giống nhau ở đầu ra: người bán không thu thêm đồng thuế nào của khách. Khác biệt nằm ở đầu vào. Hàng chịu thuế 0% vẫn là hàng chịu thuế, nên thuế GTGT đã trả khi mua nguyên liệu, dịch vụ để làm ra nó được khấu trừ, và khi đủ điều kiện có thể được hoàn. Hàng không chịu thuế nằm ngoài hệ thống GTGT, nên thuế đầu vào tương ứng không được khấu trừ mà trở thành một phần chi phí.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, 0% là lợi thế vì thuế đầu vào được lấy lại. Với doanh nghiệp bán hàng không chịu thuế, thuế đầu vào là chi phí thật, phải tính vào giá thành. Doanh nghiệp có cả hai loại phải tách hoặc phân bổ thuế đầu vào dùng chung — đây là chỗ sai phổ biến nhất khi quyết toán.

Một ví dụ giả định cho thấy khác biệt

Giả sử hai doanh nghiệp cùng mua nguyên liệu và dịch vụ với giá chưa thuế 100 triệu đồng, chịu thuế GTGT 10%, tức trả tổng cộng 110 triệu đồng. Cả hai bán sản phẩm với giá 150 triệu đồng và không thu thuế đầu ra.

KhoảnDoanh nghiệp A — hàng chịu thuế 0%Doanh nghiệp B — hàng không chịu thuế
Giá mua chưa thuế100 triệu100 triệu
Thuế GTGT đầu vào đã trả10 triệu10 triệu
Thuế GTGT đầu ra00 (không tính)
Xử lý 10 triệu đầu vàoĐược khấu trừ; còn dư thì chuyển kỳ sau hoặc đề nghị hoàn nếu đủ điều kiệnKhông được khấu trừ; tính vào giá vốn hoặc chi phí
Chi phí thật để làm ra sản phẩm100 triệu110 triệu

Cùng giá bán, doanh nghiệp B có chi phí cao hơn đúng bằng phần thuế đầu vào. Vì vậy doanh nghiệp bán hàng không chịu thuế thường phải tính thuế đầu vào vào giá bán ngay từ khi báo giá, còn doanh nghiệp xuất khẩu thì phải lo hồ sơ để thực sự lấy lại được khoản 10 triệu kia.

Nhóm không chịu thuế: ngoài hệ thống GTGT

Luật 48/2024/QH15 có một danh sách riêng các hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế. Những nhóm quen thuộc gồm một số sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến do người sản xuất tự bán ra, dịch vụ khám chữa bệnh, dạy học và dạy nghề theo quy định, một số dịch vụ tài chính, ngân hàng như cấp tín dụng, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khoẻ, chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước bán cho người đang thuê. Danh sách đầy đủ phải đọc ở luật và nghị định hướng dẫn, vì mỗi nhóm có điều kiện và phạm vi riêng.

Lý do một nhóm được đưa ra ngoài hệ thống thường là chính sách xã hội (y tế, giáo dục), bản chất giao dịch khó xác định giá trị tăng thêm (tín dụng, bảo hiểm), hoặc đã có loại thuế khác điều tiết (đất đai). Cần phân biệt ba khái niệm:

  • Không chịu thuế: nằm ngoài hệ thống, không có thuế đầu ra, đầu vào không được khấu trừ.
  • Chịu thuế 0%: nằm trong hệ thống, đầu ra bằng 0, đầu vào được khấu trừ.
  • Không phải kê khai, tính nộp: một số giao dịch như khoản bồi thường, tiền thưởng không gắn với bán hàng hoá, dịch vụ. Doanh nghiệp ghi nhận theo chứng từ phù hợp, không lập hoá đơn GTGT như bán hàng.

“Miễn thuế” trong giao tiếp hằng ngày thường bị dùng lẫn với cả ba. Khi đọc hợp đồng hay nghe tư vấn, hỏi lại cho rõ là trường hợp nào, vì hậu quả với thuế đầu vào khác nhau.

Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành

NhómCăn cứ tính đầu raThuế đầu vàoNơi tra hiện hành
Hàng hoá, dịch vụ chịu thuế 0% (xuất khẩu, vận tải quốc tế…)Giá bán chưa thuế × 0%Được khấu trừ; có thể được hoàn nếu đủ điều kiệnLuật 48/2024/QH15 phần thuế suất 0% và hoàn thuế; Nghị định 181/2025/NĐ-CP
Hàng hoá, dịch vụ không chịu thuếKhông tínhKhông được khấu trừ; tính vào chi phíLuật 48/2024/QH15, danh sách đối tượng không chịu thuế
Giao dịch không phải kê khai, tính nộpKhông tínhTheo hướng dẫn riêng cho từng trường hợpNghị định hướng dẫn Luật Thuế GTGT
Đầu vào dùng chung cho cả hàng chịu thuế và không chịu thuế—Phân bổ theo tỷ lệ doanh thu hàng chịu thuế trên tổng doanh thuNghị định hướng dẫn phần khấu trừ; tự lập bảng phân bổ theo kỳ

Doanh nghiệp vừa có hàng chịu thuế vừa có hàng không chịu thuế

Đây là trường hợp phổ biến: trường học vừa dạy học vừa bán đồng phục, phòng khám vừa khám bệnh vừa bán sản phẩm chăm sóc da, trang trại vừa tự bán nông sản vừa bán hàng đã chế biến. Thuế đầu vào được xử lý theo ba lớp:

  1. Đầu vào dùng riêng cho hàng chịu thuế (kể cả 0%): khấu trừ toàn bộ nếu đủ điều kiện hoá đơn, chứng từ.
  2. Đầu vào dùng riêng cho hàng không chịu thuế: không khấu trừ, tính vào chi phí.
  3. Đầu vào dùng chung (điện, thuê nhà, phần mềm quản lý, sửa chữa văn phòng): phân bổ theo tỷ lệ doanh thu của hàng chịu thuế trên tổng doanh thu. Phần tương ứng với hàng không chịu thuế không được khấu trừ.

Thực tế hay gặp hai kiểu sai. Kiểu thứ nhất là khấu trừ toàn bộ đầu vào dùng chung, bỏ qua phân bổ; khi kiểm tra, phần tương ứng với doanh thu không chịu thuế bị loại và phát sinh thuế nộp thêm kèm tiền chậm nộp. Kiểu thứ hai ngược lại: không khấu trừ gì cả “cho lành”, làm doanh nghiệp tự chịu chi phí lớn hơn cần thiết.

Cách làm gọn: ngay từ khi nhập hoá đơn đầu vào, gắn mỗi hoá đơn một trong ba nhãn — riêng chịu thuế, riêng không chịu thuế, dùng chung. Cuối kỳ chỉ cần tính tỷ lệ phân bổ cho nhóm dùng chung, không phải đọc lại từng tờ.

Ghi đúng trên hoá đơn: 0% và không chịu thuế là hai ô khác nhau

Trên hoá đơn điện tử, hàng không chịu thuế được thể hiện bằng ký hiệu riêng cho biết không chịu thuế (thường gặp là “KCT”), còn hàng chịu thuế suất 0% ghi rõ 0%. Hai cách ghi dẫn tới hai cách kê khai khác nhau trên tờ khai của người bán và người mua.

  • Ghi “0%” cho hàng không chịu thuế: người bán kê khai sai chỉ tiêu, và có thể khấu trừ đầu vào sai.
  • Ghi “KCT” cho hàng xuất khẩu: người bán tự bỏ quyền khấu trừ, khấu trừ rồi thì bị loại khi đối chiếu.
  • Ghi chung một dòng cho cả hàng chịu thuế và không chịu thuế: không tách được doanh thu để phân bổ đầu vào.

Quy định về hoá đơn điện tử được thay mới từ ngày 1/7/2026 với Nghị định 254/2026/NĐ-CP và Thông tư 91/2026/TT-BTC. Ký hiệu và cách thể hiện cụ thể nên đối chiếu với hai văn bản này và với định dạng mà phần mềm hoá đơn đang áp dụng.

Hoàn thuế với hàng 0%: có quyền không có nghĩa là tự có tiền

Doanh nghiệp xuất khẩu thường có thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra, vì đầu ra chủ yếu là 0%. Số dư này có thể được đề nghị hoàn nếu đáp ứng điều kiện của luật, trong đó có ngưỡng số thuế tối thiểu và yêu cầu về hồ sơ xuất khẩu, thanh toán. Ngưỡng và hồ sơ cụ thể tra ở luật, nghị định hướng dẫn và thông tư về quản lý thuế đang hiệu lực.

Những việc nên làm đều đặn để hồ sơ hoàn không bị trả lại:

  • Lưu đủ hợp đồng, tờ khai hải quan, chứng từ thanh toán theo từng lô, không để dồn tới lúc làm hồ sơ.
  • Kiểm tra nhà cung cấp đầu vào: hoá đơn từ người bán có vấn đề về trạng thái hoạt động là lý do phổ biến khiến một phần số hoàn bị loại.
  • Hoá đơn mua vào từ 5 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được khấu trừ, theo Luật 48/2024/QH15.

Tự kiểm tra ở đâu

  1. Cổng hoá đơn điện tử: lọc hoá đơn đầu ra theo cột thuế suất, đếm số dòng “KCT” và “0%”. Nếu doanh nghiệp không xuất khẩu mà vẫn có dòng 0%, đó là dấu hiệu ghi sai.
  2. Tài khoản thuế điện tử: xem tờ khai GTGT các kỳ, doanh thu không chịu thuế và doanh thu 0% có nằm đúng chỉ tiêu không; số thuế đầu vào được khấu trừ có tương ứng với tỷ lệ phân bổ không.
  3. Bảng phân bổ nội bộ: tỷ lệ doanh thu chịu thuế trên tổng doanh thu của từng kỳ, lưu cùng hồ sơ kê khai.

Gặp mặt hàng không rõ thuộc diện nào, gửi câu hỏi bằng văn bản cho thuế cơ sở quản lý và lưu văn bản trả lời cùng hồ sơ.

Câu hỏi thường gặp

Hàng không chịu thuế GTGT có phải xuất hoá đơn không?

Có. Người bán vẫn lập hoá đơn cho hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế, chỉ là không tính thuế và ghi đúng ký hiệu không chịu thuế ở phần thuế suất.

Doanh nghiệp chỉ bán hàng không chịu thuế có cần kê khai thuế GTGT không?

Doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ kê khai theo phương pháp đã đăng ký, thể hiện doanh thu không chịu thuế đúng chỉ tiêu. Thuế đầu vào của hoạt động này không được khấu trừ nên hạch toán vào chi phí.

Có được chọn chuyển từ không chịu thuế sang 0% cho có lợi không?

Không. Hàng rơi vào nhóm nào do luật quy định theo bản chất giao dịch, người nộp thuế không tự chọn. Một số trường hợp đặc thù có hướng dẫn riêng, cần đọc điều khoản tương ứng.

Tỷ lệ phân bổ đầu vào dùng chung tính theo tháng hay theo năm?

Thông thường tạm phân bổ theo từng kỳ kê khai, cuối năm tính lại theo doanh thu cả năm và điều chỉnh chênh lệch. Cách làm cụ thể đối chiếu nghị định hướng dẫn Luật Thuế GTGT đang hiệu lực.

Hàng 0% có phải đóng dấu hay ghi chú gì đặc biệt trên hoá đơn không?

Không cần ghi chú ngoài quy định, nhưng thông tin người mua, điều kiện giao hàng và đồng tiền thanh toán phải khớp với hợp đồng và hồ sơ xuất khẩu. Sai lệch giữa hoá đơn và tờ khai hải quan là lỗi hay bị hỏi khi hoàn thuế.

Thuế đầu vào không được khấu trừ có được tính vào chi phí khi tính thuế TNDN không?

Phần thuế đầu vào không được khấu trừ vì gắn với hàng không chịu thuế được tính vào nguyên giá tài sản hoặc chi phí, và được xét trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nếu khoản chi gốc đáp ứng điều kiện chi phí được trừ.

Việc tiếp theo

Cần người xem hồ sơ cụ thể? Gửi câu hỏi, người phụ trách sẽ gọi lại.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin và câu hỏi, người phụ trách sẽ gọi lại cho bạn.

hoặc
Gọi ngay 0918 832 283