Với bốn loại dịch vụ này, câu trả lời ngắn là: ăn uống và xây dựng thông thường rơi vào mức 10% vì không có tên trong danh sách 0% hay 5%; vận tải tách làm ba nhánh — vận tải quốc tế đi theo mức 0%, một số loại vận tải hành khách công cộng nằm trong diện không chịu thuế, phần còn lại theo mức 10%; còn phần mềm máy tính lâu nay nằm trong danh sách không chịu thuế, nhưng ranh giới giữa “phần mềm” và các dịch vụ công nghệ khác là chỗ doanh nghiệp hay xếp nhầm nhất.
Cả bốn đều có thêm một lớp nữa: chính sách giảm 2% theo nghị quyết của Quốc hội (10% xuống 8%) áp cho một số nhóm trong từng giai đoạn. Mức ghi trên hoá đơn vì vậy phụ thuộc cả nhóm thuế suất lẫn việc dịch vụ có nằm trong danh mục loại trừ của đợt giảm đang hiệu lực hay không. Dưới đây đi qua từng loại: bản chất, chỗ luật gọi tên, ca giáp ranh.
Nguyên tắc chung: đi từ bản chất, không đi từ tên gọi
Luật Thuế GTGT 48/2024/QH15 không có danh sách “thuế suất của từng ngành”. Luật có bốn thứ: danh sách không chịu thuế, danh sách 0%, danh sách 5%, và phần còn lại là 10%. Vì vậy câu hỏi đúng cho mỗi dịch vụ không phải “ngành này mức bao nhiêu” mà là “dịch vụ này có được gọi tên ở danh sách nào không”.
Thứ tự dò nên cố định để khỏi bỏ sót:
- Dịch vụ có thuộc diện không chịu thuế không? Nếu có, không tính thuế đầu ra, và thuế đầu vào phục vụ dịch vụ đó không được khấu trừ.
- Nếu chịu thuế, có thuộc trường hợp 0% (xuất khẩu, vận tải quốc tế, các trường hợp luật liệt kê) và đủ hồ sơ không?
- Có tên trong danh sách 5% không?
- Không ở đâu cả thì 10%, rồi mới xét tiếp có thuộc diện giảm 2% của đợt đang hiệu lực hay không.
Tên thương mại của dịch vụ (“gói giải pháp”, “combo trọn gói”, “dịch vụ số”) không quyết định gì. Hợp đồng mô tả công việc gì, bên mua nhận được gì — đó mới là căn cứ để xếp nhóm.
Dịch vụ ăn uống: mức 10% và bài toán hoá đơn nhiều dòng
Dịch vụ ăn uống tại nhà hàng, quán ăn, căng tin, suất ăn công nghiệp không có tên trong danh sách 5%, nên theo nguyên tắc chung chịu 10%. Trong các đợt giảm thuế gần đây, dịch vụ ăn uống thường nằm trong nhóm được giảm 2%; nhưng mỗi đợt có danh mục loại trừ riêng, nên phải đọc nghị định hướng dẫn của đợt đang áp dụng chứ không mặc định.
Chỗ khó thật nằm ở hoá đơn nhiều dòng. Một bàn tiệc có thể gồm:
- Món ăn, đồ uống không cồn: dịch vụ ăn uống, thường thuộc diện được giảm khi có chính sách giảm.
- Bia, rượu: là hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; các đợt giảm GTGT trước đây thường loại trừ nhóm hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, nên dòng này có thể phải giữ 10% trong khi dòng món ăn ghi 8%.
- Phí phục vụ, phụ thu: là khoản người bán được hưởng nên cộng vào giá tính thuế của dịch vụ tương ứng, không phải khoản “ngoài thuế”.
- Tiền thuê phòng riêng, âm thanh, trang trí: nếu tính riêng thì xác định theo bản chất từng dịch vụ.
Gộp tất cả thành một dòng “tiệc trọn gói” rồi áp một mức là cách làm hay gặp và cũng là cách dễ sai nhất: hoặc áp mức giảm cho cả phần bia rượu, hoặc mất quyền giảm cho phần món ăn. Nếu thực đơn trọn gói có bia rượu, nên tách giá phần đồ uống có cồn ngay từ báo giá.
Với suất ăn giao theo hợp đồng cho nhà máy, trường học: vẫn là dịch vụ ăn uống. Trường hợp bên cung cấp chỉ bán thực phẩm tươi sống, chưa chế biến, cho bếp của bên mua tự nấu thì đó là bán hàng hoá và phải tra lại từ đầu theo nhóm hàng — một số sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến có cách xử lý riêng tuỳ khâu kinh doanh.
Vận tải: ba nhánh tách theo tuyến và loại hình
Vận tải là nhóm mà cùng một chiếc xe có thể chạy ra ba mức xử lý khác nhau tuỳ chuyến.
- Vận tải quốc tế: chuyên chở hàng hoá, hành khách từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc ngược lại thuộc diện áp 0% khi có hợp đồng và chứng từ theo quy định. Chặng nội địa nằm trong cùng một hợp đồng vận tải quốc tế thường đi theo hợp đồng đó; còn chặng nội địa ký riêng (chở hàng từ nhà máy ra cảng cho hãng tàu, cho người xuất khẩu) là vận tải trong nước, không tự động hưởng 0% chỉ vì lô hàng sau đó được xuất khẩu.
- Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện lâu nay nằm trong danh sách không chịu thuế. Điều kiện để được coi là “công cộng” (tuyến, giá vé, đơn vị được giao vận hành) do văn bản hướng dẫn quy định; xe hợp đồng đưa đón công nhân, xe du lịch không thuộc nhóm này.
- Các loại vận tải còn lại — chở hàng nội địa, xe khách tuyến cố định, taxi, xe hợp đồng, vận tải đường thuỷ trong nước — không có tên trong danh sách 5%, nên theo nguyên tắc chung là 10%, và xét thêm có thuộc diện giảm của đợt hiện hành không.
Hai ca giáp ranh cần chú ý: cho thuê xe không kèm người lái là cho thuê tài sản chứ không phải dịch vụ vận tải; dịch vụ kho bãi, bốc xếp, khai báo hải quan đi kèm lô hàng xuất khẩu có quy định riêng về việc có được 0% hay không — không suy ra từ chuyện “cả lô là hàng xuất khẩu”.
Phần mềm: không chịu thuế, nhưng ranh giới rất hẹp
Sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm lâu nay nằm trong danh sách không chịu thuế GTGT. Khi áp dụng Luật 48/2024/QH15, doanh nghiệp công nghệ nên đối chiếu lại đúng câu chữ của danh sách hiện hành và phần mô tả “sản phẩm phần mềm, dịch vụ phần mềm” theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số, vì đó là nơi quyết định phạm vi.
Những thứ thường không phải là phần mềm dù bán chung một hợp đồng với phần mềm:
- Cho thuê máy chủ, không gian lưu trữ, đường truyền, tên miền.
- Bán thiết bị phần cứng có cài sẵn phần mềm — xác định theo hàng hoá.
- Dịch vụ quảng cáo trực tuyến, dịch vụ nội dung số, dịch vụ nhập liệu thuần tuý.
- Bảo trì, sửa chữa phần cứng; lắp đặt mạng, thiết bị.
Hệ quả của việc xếp nhầm đi theo hai chiều. Ghi “không chịu thuế” cho phần thuê hạ tầng là khai thiếu thuế đầu ra. Còn ngược lại, doanh nghiệp chỉ làm phần mềm mà vẫn xuất hoá đơn 10% thì khách hàng được khấu trừ một khoản không có căn cứ, và chính doanh nghiệp đang tính thuế đầu vào theo cách sai: thuế đầu vào phục vụ hoạt động không chịu thuế không được khấu trừ, phải phân bổ nếu dùng chung.
Với gói dịch vụ thuê bao phần mềm trọn gói (vừa quyền sử dụng phần mềm, vừa lưu trữ dữ liệu, vừa hỗ trợ), cách an toàn là tách giá trị từng cấu phần trong hợp đồng và xác định từng phần. Không tách được mà vẫn muốn áp một cách xử lý cho cả gói thì nên hỏi cơ quan thuế quản lý bằng văn bản trước khi phát hành hoá đơn hàng loạt.
Xây dựng, lắp đặt: thuế suất theo công trình và hạng mục bàn giao
Hoạt động xây dựng, lắp đặt không có tên trong danh sách 5% thì theo nguyên tắc chung chịu 10%. Một số công trình gắn với chính sách xã hội (ví dụ nhóm liên quan tới nhà ở xã hội) từng có quy định riêng — nếu công trình thuộc các nhóm này, tra đúng danh sách 5% và điều kiện đi kèm của luật hiện hành.
Ba điểm riêng của xây dựng:
- Xác định theo công trình, hạng mục bàn giao, không theo từng loại vật tư đưa vào công trình. Nhà thầu bao thầu cả vật liệu không tách dòng xi măng, thép, gạch với mức riêng của từng thứ; cả hạng mục nghiệm thu đi theo mức của hoạt động xây dựng.
- Thời điểm lập hoá đơn là thời điểm nghiệm thu, bàn giao từng hạng mục, khối lượng hoàn thành, không phụ thuộc đã thu tiền hay chưa. Công trình kéo dài qua nhiều đợt giảm thuế thì mỗi lần nghiệm thu áp mức của thời điểm đó.
- Công trình trong khu phi thuế quan hoặc cho bên nước ngoài có thể có cách xử lý khác, nhưng phải đọc điều kiện cụ thể; không tự áp 0% chỉ vì chủ đầu tư là doanh nghiệp chế xuất.
Giữ biên bản nghiệm thu có ngày rõ ràng là cách bảo vệ mức thuế đã áp.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Nhóm dịch vụ | Căn cứ tính | Mức theo nguyên tắc | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Ăn uống tại chỗ, suất ăn theo hợp đồng | Giá dịch vụ chưa có thuế, gồm phí phục vụ, phụ thu | 10%; xét giảm 2% theo đợt | Luật 48/2024/QH15; nghị quyết và nghị định giảm thuế đang hiệu lực, phần danh mục loại trừ |
| Vận tải quốc tế | Cước vận chuyển chưa có thuế; cần hợp đồng, chứng từ | 0% | Luật 48/2024/QH15, phần thuế suất 0%; Nghị định 181/2025/NĐ-CP |
| Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện | Không tính thuế đầu ra | Không chịu thuế | Danh sách đối tượng không chịu thuế của luật hiện hành |
| Vận tải nội địa khác | Cước chưa có thuế | 10%; xét giảm 2% theo đợt | Luật 48/2024/QH15; nghị định giảm thuế |
| Sản phẩm, dịch vụ phần mềm | Không tính thuế đầu ra; đầu vào không được khấu trừ | Không chịu thuế | Danh sách không chịu thuế; quy định chuyên ngành về sản phẩm, dịch vụ phần mềm |
| Hạ tầng, lưu trữ, quảng cáo trực tuyến bán kèm phần mềm | Giá từng cấu phần chưa có thuế | Theo bản chất từng cấu phần (thường 10%) | Luật 48/2024/QH15; hỏi cơ quan thuế khi không tách được |
| Xây dựng, lắp đặt | Giá trị hạng mục, công trình nghiệm thu bàn giao chưa có thuế | 10%, trừ nhóm luật gọi tên | Luật 48/2024/QH15, danh sách 5%; nghị định hướng dẫn |
Cột “mức theo nguyên tắc” là kết quả khi dịch vụ không có tên ở danh sách nào khác. Chỉ cần một cấu phần có tên ở danh sách khác là phải tách ra xét riêng.
Tự kiểm tra ở đâu
- Cổng hoá đơn điện tử: tải hoá đơn đầu ra ba tháng gần nhất, lọc theo thuế suất. Dịch vụ cùng loại mà xuất hai mức khác nhau là chỗ cần rà trước tiên.
- Tài khoản thuế điện tử của doanh nghiệp: xem tờ khai GTGT đã nộp — doanh thu không chịu thuế, 0%, 5%, 10% được ghi ở các chỉ tiêu riêng. Tỷ trọng bất thường giữa các chỉ tiêu (ví dụ công ty phần mềm có phần lớn doanh thu ở 10%) là tín hiệu cần xem lại.
- Văn bản gốc: Luật 48/2024/QH15, Nghị định 181/2025/NĐ-CP và nghị định giảm thuế của đợt hiện hành. Với dịch vụ mới hoặc gói trộn nhiều cấu phần, gửi câu hỏi bằng văn bản cho thuế cơ sở quản lý hoặc Thuế tỉnh, thành phố và giữ văn bản trả lời.
Nếu cần nhắc lại logic ba mức và mức mặc định, xem bài ba mức thuế suất GTGT và nhóm hàng thuộc từng mức.
Câu hỏi thường gặp
Quán cà phê bán cả bánh đóng gói sẵn mang về thì ghi thuế suất thế nào?
Đồ uống pha chế và bánh phục vụ tại chỗ là dịch vụ ăn uống. Bánh đóng gói bán mang về như hàng hoá thì xác định theo nhóm hàng của sản phẩm đó. Nên tách dòng trên hoá đơn để mỗi dòng mang đúng mức của mình.
Hoá đơn tiệc cưới có cả bia thì có được ghi 8% cho toàn bộ không?
Không nên. Các đợt giảm thuế trước đây thường loại trừ hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như bia, rượu. Phần bia rượu tách dòng và giữ mức không được giảm; phần món ăn áp mức giảm nếu đợt hiện hành cho phép.
Doanh nghiệp phần mềm có phải xuất hoá đơn không?
Có. Dịch vụ không chịu thuế GTGT vẫn phải lập hoá đơn, chỉ là dòng thuế suất thể hiện là không chịu thuế thay vì một mức phần trăm. Không lập hoá đơn là sai về quản lý hoá đơn, không liên quan tới việc có thuế hay không.
Xe chở công nhân theo hợp đồng với khu công nghiệp có phải vận tải công cộng không?
Thông thường không. Vận tải hành khách công cộng gắn với tuyến, giá vé và đơn vị được giao vận hành theo quy định chuyên ngành. Xe đưa đón theo hợp đồng riêng là dịch vụ vận tải thông thường, xác định theo nguyên tắc chung.
Công trình ký hợp đồng khi đang giảm thuế nhưng nghiệm thu sau khi hết giảm thì sao?
Mức thuế áp theo thời điểm lập hoá đơn, tức thời điểm nghiệm thu, bàn giao từng hạng mục. Hạng mục nghiệm thu sau khi hết thời hạn giảm thì áp mức thường, dù hợp đồng ký từ trước.