ThueSuat.comThuế Suất
Biểu thuế luỹ tiến TNCN

Người Việt đi làm ở nước ngoài hoặc về nước giữa năm: năm nào còn là cá nhân cư trú, lương tính theo biểu nào

Người Việt sang nước ngoài làm việc hay từ nước ngoài về giữa năm thường không biết năm đó mình là cá nhân cư trú hay không cư trú, và vì vậy không biết lương tính theo biểu luỹ tiến hay theo một mức cố định. Bài này đi qua các tiêu chí, những năm chuyển tiếp và giấy tờ cần giữ.

Người lao động trẻ ngồi ở sảnh sân bay với vali và hộ chiếu úp trên đùi

Việc lương được tính theo biểu thuế luỹ tiến hay theo một thuế suất cố định phụ thuộc vào việc năm đó người lao động là cá nhân cư trú hay không cư trú tại Việt Nam. Cá nhân cư trú chịu thuế trên thu nhập ở mọi nơi, được giảm trừ gia cảnh và áp biểu luỹ tiến với tiền lương. Cá nhân không cư trú chỉ chịu thuế trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không được giảm trừ gia cảnh, và tiền lương chịu một mức toàn phần cố định.

Với người Việt đi làm ở nước ngoài hoặc về nước, điều gây nhầm lẫn là tư cách cư trú xét theo từng năm tính thuế, không theo quốc tịch hay nơi đăng ký thường trú một cách máy móc. Năm đi và năm về thường là năm khó nhất, vì người đó có mặt ở hai nơi và cả hai nước đều có thể coi mình là đối tượng cư trú.

Hai tiêu chí xác định cá nhân cư trú

Luật Thuế TNCN lâu nay xác định cá nhân cư trú theo hai tiêu chí, chỉ cần đáp ứng một:

  1. Số ngày có mặt tại Việt Nam đạt ngưỡng luật quy định, tính trong năm dương lịch hoặc trong một chuỗi tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt. Ngày đến và ngày đi được đếm theo quy tắc riêng.
  2. Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, gồm nơi đăng ký thường trú hoặc nhà thuê để ở với thời hạn hợp đồng đủ dài theo quy định.

Với người Việt, tiêu chí thứ hai thường tự động thoả mãn vì vẫn có nơi thường trú trong nước. Đây là lý do nhiều người đi làm ở nước ngoài gần trọn năm vẫn bị coi là cá nhân cư trú Việt Nam — trừ khi chứng minh được mình là đối tượng cư trú của nước kia, thường bằng giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế nước ngoài cấp.

Ngưỡng số ngày, cách đếm ngày và điều kiện chứng minh cư trú nước ngoài được quy định chi tiết trong văn bản hướng dẫn Luật Thuế TNCN. Từ 1/7/2026, đối chiếu Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC thay vì dùng tài liệu cũ.

Bốn tình huống thường gặp

Tình huốngKhả năng về tư cách cư trúĐiều cần làm
Đi làm ở nước ngoài cả năm, vẫn giữ nơi thường trú ở Việt Nam, không có giấy chứng nhận cư trú nước ngoàiDễ bị coi là cư trú Việt NamKê khai thu nhập ở nước ngoài, trừ thuế đã nộp bên đó
Đi làm ở nước ngoài cả năm, có giấy chứng nhận cư trú nước ngoàiCó cơ sở để là không cư trú Việt NamChỉ khai phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam nếu có
Đi giữa năm, trước đó làm trong nướcNăm đi thường vẫn là cư trú Việt NamGộp lương trong nước và ở nước ngoài khi quyết toán
Về nước giữa năm, làm tiếp cho công ty trong nướcNăm về thường là cư trú Việt NamXét có phải khai thu nhập ở nước ngoài của những tháng trước khi về

Bảng trên chỉ là khả năng thường gặp. Kết luận cho từng người phụ thuộc số ngày thực tế, giấy tờ nơi ở, và hiệp định thuế giữa Việt Nam với nước kia nếu cả hai nước cùng coi người đó là đối tượng cư trú.

Khi cả hai nước cùng coi mình là cư trú

Người làm việc ở nước ngoài nhiều tháng có thể đạt ngưỡng cư trú của nước sở tại, trong khi vẫn là cư trú Việt Nam vì còn nơi thường trú. Hiệp định tránh đánh thuế hai lần có điều khoản phân định tư cách cư trú cho trường hợp này, xét lần lượt các yếu tố: nơi có nhà ở thường trú, nơi có quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn, nơi thường sống, quốc tịch.

Trên thực tế, người lao động có gia đình ở lại Việt Nam, vẫn có nhà, vẫn có tài khoản và tài sản chính trong nước thì rất dễ được xác định là cư trú Việt Nam theo hiệp định. Ngược lại, người đưa cả gia đình sang, thuê nhà dài hạn ở nước kia, có thể được xác định là cư trú nước ngoài.

Không có hiệp định thì không có cơ chế phân định này; người đó có thể phải khai ở cả hai nơi và chỉ còn cơ chế trừ thuế đã nộp ở nước ngoài để giảm trùng lặp.

Nếu là cư trú: gộp lương ở nước ngoài vào biểu luỹ tiến

Cá nhân cư trú Việt Nam có lương từ nước ngoài phải tự khai phần thu nhập đó (vì không có tổ chức trả thu nhập ở Việt Nam khấu trừ), và khi quyết toán năm, cộng với lương trong nước (nếu có) rồi áp biểu luỹ tiến.

Minh hoạ bằng ký hiệu cho năm đi giữa năm: trong năm, người lao động nhận lương trong nước L1 (đã được công ty khấu trừ), lương ở nước ngoài L2 (đã nộp thuế ở nước ngoài N). Khi quyết toán:

  1. Tổng thu nhập chịu thuế = L1 + L2 (quy đổi ra đồng Việt Nam), trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định.
  2. Trừ giảm trừ gia cảnh cả năm. Từ kỳ tính thuế 2026: bản thân 15,5 triệu đồng/tháng, mỗi người phụ thuộc 6,2 triệu đồng/tháng (Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15).
  3. Áp biểu luỹ tiến theo năm ra số thuế phải nộp S.
  4. Trừ số đã khấu trừ trong nước và số thuế đã nộp ở nước ngoài — phần nước ngoài được trừ không vượt quá số thuế tính theo biểu Việt Nam cho phần L2.

Vì là biểu luỹ tiến, cộng L2 vào có thể đẩy phần thu nhập lên bậc cao hơn. Người có lương nước ngoài cao mà nước sở tại đánh thuế thấp thường phải nộp thêm ở Việt Nam khi quyết toán.

Nếu là không cư trú: chỉ phần phát sinh tại Việt Nam

Người được xác định không cư trú Việt Nam trong năm chỉ chịu thuế trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Với người Việt làm việc ở nước ngoài, phần này thường là:

  • Lương, thưởng do công ty Việt Nam trả cho thời gian làm việc tại Việt Nam trước khi đi hoặc trong các chuyến về công tác.
  • Tiền cho thuê nhà, lãi, cổ tức, chuyển nhượng tài sản ở Việt Nam — các khoản này đã có cách tính riêng theo từng loại.

Tiền lương của cá nhân không cư trú chịu một mức toàn phần cố định trên tổng thu nhập, không trừ giảm trừ gia cảnh, không quyết toán theo biểu. Mức cụ thể tra ở luật hiện hành. Công ty Việt Nam trả lương cho người đã chuyển sang không cư trú cần đổi cách khấu trừ ngay từ khi xác định được tư cách, không đợi cuối năm.

Năm về nước: những câu hỏi hay bị bỏ qua

  • Lương ở nước ngoài trước khi về có phải khai không? Nếu năm về là năm cư trú Việt Nam, về nguyên tắc thu nhập toàn cầu của năm đó chịu thuế. Hướng dẫn cụ thể về thời điểm bắt đầu tính cho người mới trở thành cư trú phải tra văn bản hiện hành.
  • Công ty mới trong nước có quyết toán thay được không? Công ty chỉ quyết toán thay cho phần lương mình trả. Nếu người lao động còn thu nhập ở nước ngoài phải khai, thường phải tự quyết toán.
  • Thưởng hoặc tiền trợ cấp thôi việc của chủ nước ngoài trả sau khi đã về: xét thu nhập đó gắn với thời gian làm việc ở đâu và thời điểm nhận, rồi xác định có chịu thuế ở Việt Nam không.
  • Tiền bảo hiểm hưu trí, quỹ tiết kiệm bắt buộc ở nước ngoài rút ra khi về: cách xử lý khác nhau theo bản chất khoản tiền và hiệp định; nên hỏi cơ quan thuế trước khi khai.

Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành

NhómCăn cứ tínhThuế suấtNơi tra mức hiện hành
Cá nhân cư trú, tiền lương trong và ngoài nướcTổng thu nhập tính thuế sau giảm trừ gia cảnhBiểu luỹ tiến từng phầnLuật Thuế TNCN sửa đổi; Nghị định 253/2026/NĐ-CP; Thông tư 87/2026/TT-BTC
Giảm trừ gia cảnh từ kỳ 2026Theo tháng15,5 triệu đồng bản thân; 6,2 triệu đồng mỗi người phụ thuộcNghị quyết 110/2025/UBTVQH15
Cá nhân không cư trú, tiền lương phát sinh tại Việt NamTổng thu nhập, không giảm trừMức toàn phần cố địnhLuật Thuế TNCN hiện hành
Thuế đã nộp ở nước ngoàiChứng từ nộp thuếTrừ tối đa bằng thuế Việt Nam tính cho phần thu nhập đóVăn bản hướng dẫn; hiệp định thuế

Tự kiểm tra ở đâu

  • Ứng dụng thuế trên điện thoại hoặc tài khoản thuế điện tử cá nhân: xem thu nhập đã được các tổ chức ở Việt Nam kê khai cho mình trong năm và số đã khấu trừ.
  • Hộ chiếu và dữ liệu xuất nhập cảnh: đếm số ngày có mặt tại Việt Nam trong năm, giữ bản chụp các trang dấu.
  • Chứng từ ở nước ngoài: bảng lương, xác nhận thuế đã nộp, giấy chứng nhận cư trú nước sở tại nếu có.
  • Cơ quan thuế quản lý nơi cư trú: hỏi bằng văn bản khi hai nước cùng coi mình là cư trú hoặc khi có khoản thu nhập đặc biệt lúc về nước.

Cách tự khai lương từ công ty nước ngoài theo quý đã có ở bài nhận lương từ công ty ở nước ngoài và tự khai theo quý.

Câu hỏi thường gặp

Đi làm ở nước ngoài nhưng vẫn có tên trong sổ hộ khẩu thì có chắc là cá nhân cư trú Việt Nam không?

Không chắc, nhưng khả năng cao nếu không có giấy tờ chứng minh cư trú nước ngoài. Nơi đăng ký thường trú là một căn cứ; người đó có thể được xác định là không cư trú nếu chứng minh được là đối tượng cư trú của nước kia theo quy định.

Làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động có thời hạn thì lương có phải nộp thuế ở Việt Nam không?

Nếu năm đó vẫn là cá nhân cư trú Việt Nam thì có nghĩa vụ kê khai, nhưng được trừ thuế đã nộp ở nước ngoài. Nếu mức thuế nước ngoài bằng hoặc cao hơn thuế tính theo biểu Việt Nam cho phần lương đó, số phải nộp thêm có thể bằng không, nhưng việc kê khai vẫn cần làm.

Người phụ thuộc đã đăng ký ở Việt Nam có còn được tính khi mình đi làm ở nước ngoài không?

Giảm trừ gia cảnh chỉ áp cho cá nhân cư trú. Nếu năm đó vẫn là cư trú Việt Nam và người phụ thuộc còn đủ điều kiện thì vẫn được tính; nếu chuyển sang không cư trú thì không được giảm trừ.

Tiền lương nhận bằng ngoại tệ quy đổi theo tỷ giá nào khi quyết toán?

Quy đổi theo tỷ giá quy định tại văn bản hướng dẫn thuế TNCN hiện hành, thường gắn với thời điểm phát sinh thu nhập. Nên giữ bảng lương từng tháng kèm tỷ giá đã dùng để đối chiếu.

Không kê khai lương ở nước ngoài thì cơ quan thuế có biết không?

Việt Nam tham gia các cơ chế trao đổi thông tin thuế với nhiều nước, và thông tin chuyển tiền, tài sản ngày càng được đối chiếu. Không kê khai thu nhập thuộc diện phải khai là khai thiếu, có thể bị truy thu cùng tiền chậm nộp và xử phạt.

Về nước hẳn giữa năm thì có phải quyết toán ở nước ngoài trước không?

Đó là nghĩa vụ theo luật nước sở tại, thường gọi là quyết toán khi rời nước đó. Nên làm xong và lấy chứng từ thuế đã nộp trước khi về, vì chứng từ này là căn cứ để được trừ nếu năm đó phải khai ở Việt Nam.

Việc tiếp theo

Cần người xem hồ sơ cụ thể? Gửi câu hỏi, người phụ trách sẽ gọi lại.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin và câu hỏi, người phụ trách sẽ gọi lại cho bạn.

hoặc
Gọi ngay 0918 832 283