Thuế thu nhập cá nhân với tiền lương, tiền công của người lao động cư trú có hợp đồng từ 3 tháng trở lên được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần: thu nhập tính thuế được cắt thành các khúc theo bậc, mỗi khúc chịu thuế suất của bậc mình, rồi cộng lại. Không có chuyện vượt qua một ngưỡng thì toàn bộ thu nhập chịu mức cao hơn.
Biểu thuế đã được sửa trong đợt sửa đổi Luật Thuế TNCN gần đây, cùng với mức giảm trừ gia cảnh mới áp dụng từ kỳ tính thuế 2026: 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc. Số bậc và khoảng thu nhập của từng bậc phải tra ở văn bản hiện hành. Bài này dùng một biểu giả định để minh hoạ cách tính — các thuế suất trong ví dụ không phải mức thật.
Năm bước từ lương trên hợp đồng tới số thuế
- Cộng thu nhập chịu thuế trong tháng: lương, thưởng, phụ cấp, các khoản trả thay bằng tiền hoặc hiện vật. Trừ ra những khoản luật cho không tính vào thu nhập chịu thuế hoặc được miễn (một số phụ cấp, khoản chi theo chế độ… trong giới hạn quy định).
- Trừ bảo hiểm bắt buộc phần người lao động đóng (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp), tính theo tỷ lệ trên tiền lương đóng bảo hiểm.
- Trừ giảm trừ gia cảnh: 15,5 triệu đồng cho bản thân và 6,2 triệu đồng cho mỗi người phụ thuộc đã đăng ký.
- Trừ các khoản giảm trừ khác nếu có (đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học đúng quy định; quỹ hưu trí tự nguyện trong giới hạn). Kết quả là thu nhập tính thuế.
- Chia thu nhập tính thuế theo bậc của biểu và nhân với thuế suất từng bậc, cộng lại.
Bốn bước đầu không phụ thuộc biểu thuế. Phần lớn sai lệch trong bảng lương nằm ở bước 1 và bước 3 (tính thiếu khoản chịu thuế, khai người phụ thuộc chưa đăng ký), không phải ở bước chia bậc.
Ví dụ với một biểu giả định
Giả sử một người lao động có tổng thu nhập chịu thuế tháng là 40 triệu đồng, phần bảo hiểm bắt buộc tự đóng giả sử là 3,5 triệu đồng, có một người phụ thuộc đã đăng ký, không có khoản giảm trừ khác.
Thu nhập tính thuế = 40 − 3,5 − 15,5 − 6,2 = 14,8 triệu đồng.
Để minh hoạ cách chia bậc, dùng một biểu giả định có ba bậc (không phải biểu thật):
| Bậc (giả định) | Phần thu nhập tính thuế/tháng | Thuế suất giả định — không phải mức thật | Phần rơi vào bậc | Thuế của phần đó |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Đến 10 triệu | 4% | 10 triệu | 0,4 triệu |
| 2 | Trên 10 đến 25 triệu | 12% | 4,8 triệu | 0,576 triệu |
| 3 | Trên 25 triệu | 22% | 0 | 0 |
| Cộng | 14,8 triệu | 0,976 triệu | ||
Người này có thu nhập tính thuế “chạm” bậc 2, nhưng chỉ 4,8 triệu đồng phần vượt 10 triệu mới chịu thuế suất bậc 2. Mười triệu đồng đầu vẫn chịu thuế suất bậc 1. Thuế thực tế chia cho thu nhập tính thuế ra khoảng 6,6% — luôn thấp hơn thuế suất của bậc cao nhất mà người đó chạm tới.
Khi có biểu thật, chỉ cần thay khoảng và thuế suất của từng bậc vào bảng trên, cách tính giữ nguyên.
Cách tính rút gọn mà phần mềm lương hay dùng
Nhiều bảng lương không cộng từng bậc mà dùng công thức rút gọn: thuế = thu nhập tính thuế × thuế suất của bậc cao nhất chạm tới − một số trừ cố định của bậc đó. Số trừ cố định chính là phần “thuế tính dư” nếu áp mức cao cho cả những khúc thấp hơn.
Với biểu giả định ở trên, số trừ của bậc 2 = 10 triệu × (12% − 4%) = 0,8 triệu. Thuế = 14,8 × 12% − 0,8 = 1,776 − 0,8 = 0,976 triệu đồng — khớp với cách cộng từng bậc.
Hai cách cho cùng kết quả. Rủi ro nằm ở chỗ: khi biểu thuế thay đổi, bảng số trừ cố định trong phần mềm cũng phải được cập nhật. Phần mềm vẫn dùng số trừ của biểu cũ sẽ ra số thuế sai ở mọi dòng lương, và sai đều đặn nên khó thấy. Cách kiểm nhanh: chọn vài người, tự cộng từng bậc bằng tay theo biểu mới, so với số phần mềm tính.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Nhóm người nhận thu nhập | Căn cứ tính | Cách áp thuế | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Cá nhân cư trú, hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên | Thu nhập tính thuế sau giảm trừ | Biểu luỹ tiến từng phần; khấu trừ hằng tháng, quyết toán năm | Luật Thuế TNCN sửa đổi; Nghị định 253/2026/NĐ-CP; Thông tư 87/2026/TT-BTC |
| Cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dưới 3 tháng | Khoản trả từ 2 triệu đồng/lần | Tổ chức trả khấu trừ 10%; cá nhân quyết toán theo biểu nếu thuộc diện | Như trên; mẫu cam kết người thu nhập thấp theo thông tư hiện hành |
| Cá nhân không cư trú | Tổng thu nhập từ tiền lương, không giảm trừ gia cảnh | Thuế suất toàn phần, không dùng biểu luỹ tiến | Luật Thuế TNCN sửa đổi và văn bản hướng dẫn |
| Giảm trừ gia cảnh | Bản thân và người phụ thuộc đã đăng ký | 15,5 triệu và 6,2 triệu đồng/tháng từ kỳ tính thuế 2026 | Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 |
Tháng và năm: vì sao cuối năm vẫn phải quyết toán
Biểu luỹ tiến được thiết kế theo năm; khấu trừ hằng tháng chỉ là tạm tính với biểu quy đổi theo tháng. Thu nhập các tháng không đều nhau (tháng có thưởng, tháng nghỉ không lương) làm số khấu trừ hằng tháng lệch với số thuế thật của cả năm. Quyết toán năm tính lại một lần trên tổng thu nhập và tổng giảm trừ cả năm.
- Nếu người lao động chỉ có thu nhập từ một nơi, nơi đó thường quyết toán thay khi được uỷ quyền.
- Nếu có thu nhập từ hai nơi trở lên hoặc có khoản chưa khấu trừ đủ, cá nhân tự quyết toán. Hạn nộp hồ sơ tự quyết toán là ngày cuối cùng của tháng thứ tư sau khi kết thúc năm, theo Luật Quản lý thuế.
- Người phụ thuộc đăng ký giữa năm được tính giảm trừ từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng; quyết toán là lúc bù phần giảm trừ tháng nào chưa được tính.
Những khoản hay bị tính sai trước khi tới biểu thuế
Biểu thuế chỉ là bước cuối. Số thuế sai thường bắt nguồn từ phần đầu vào của bảng lương:
- Khoản trả bằng hiện vật: tiền nhà do công ty trả thay, học phí cho con, chuyến du lịch thưởng. Nhiều nơi quên cộng vào thu nhập chịu thuế vì không đi qua bảng lương. Mỗi loại có quy tắc riêng về phần được loại trừ — đọc hướng dẫn thay vì mặc định là không chịu thuế.
- Phụ cấp vượt giới hạn: một số phụ cấp chỉ không tính thuế trong mức quy định; phần vượt phải cộng vào thu nhập chịu thuế.
- Người phụ thuộc “đã nộp giấy” nhưng chưa được ghi nhận: bảng lương tính giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng trong khi hệ thống thuế chưa có, cuối năm quyết toán bị lệch.
- Khoản trả trước, trả sau: thu nhập tính vào kỳ nào theo thời điểm trả thu nhập, không theo tháng làm việc. Lương tháng 12 trả vào tháng 1 năm sau thuộc năm sau.
Rà bốn điểm này trước, rồi mới nghi tới biểu thuế.
Tự kiểm tra ở đâu
- Ứng dụng thuế trên điện thoại hoặc tài khoản thuế điện tử cá nhân: đăng nhập bằng số định danh cá nhân (dùng thay mã số thuế cá nhân từ ngày 1/7/2025), xem thu nhập và số thuế các tổ chức đã khấu trừ và kê khai cho mình.
- Chứng từ khấu trừ thuế do nơi trả thu nhập cấp: đối chiếu với phiếu lương từng tháng.
- Thông tin người phụ thuộc trên tài khoản: người phụ thuộc chưa được ghi nhận thì giảm trừ chưa được tính, dù đã nộp giấy tờ cho phòng nhân sự.
Hướng dẫn chi tiết về giảm trừ gia cảnh và hồ sơ người phụ thuộc có ở phần giảm trừ gia cảnh trên Khấu Trừ.
Câu hỏi thường gặp
Thu nhập vượt sang bậc cao hơn thì toàn bộ lương bị tính mức cao hơn phải không?
Không. Chỉ phần thu nhập tính thuế nằm trong khoảng của bậc cao hơn mới chịu thuế suất bậc đó. Phần thấp hơn vẫn chịu thuế suất của các bậc dưới.
Biểu mới áp dụng từ tháng nào?
Thời điểm áp dụng biểu và giảm trừ mới do luật sửa đổi và nghị quyết quy định, gắn với kỳ tính thuế. Giảm trừ 15,5 và 6,2 triệu đồng áp dụng từ kỳ tính thuế 2026; thời điểm của biểu bậc tra ở văn bản sửa đổi luật và Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Bảo hiểm tự nguyện có được trừ trước khi tính thuế không?
Bảo hiểm bắt buộc phần người lao động đóng được trừ. Một số khoản như đóng quỹ hưu trí tự nguyện được trừ trong giới hạn quy định; các loại bảo hiểm tự nguyện khác thường không được trừ. Đối chiếu văn bản hướng dẫn hiện hành.
Người phụ thuộc chưa có số định danh thì có được giảm trừ không?
Người phụ thuộc cần được đăng ký với thông tin định danh theo quy định để được ghi nhận. Trường hợp đặc biệt có hướng dẫn riêng; nên đăng ký sớm vì giảm trừ chỉ được tính khi đăng ký hợp lệ.
Hai vợ chồng có được cùng khai một con là người phụ thuộc không?
Không. Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ cho một người nộp thuế trong cùng kỳ tính thuế. Hai vợ chồng thoả thuận người nào đăng ký.
Tự tính thấy khác số công ty khấu trừ thì làm gì?
Kiểm tra lần lượt: khoản nào công ty tính vào thu nhập chịu thuế, số bảo hiểm trừ, số người phụ thuộc đã ghi nhận, và phần mềm đang dùng biểu nào. Chênh lệch thường nằm ở một trong bốn chỗ này; còn lệch thì hỏi phòng nhân sự và điều chỉnh khi quyết toán.