Khi lương tăng, phần tăng thêm bị trừ hai thứ: bảo hiểm bắt buộc tính theo tỷ lệ trên tiền lương đóng bảo hiểm, và thuế TNCN theo thuế suất của bậc cao nhất mà thu nhập đang chạm tới. Vì phần tăng thêm luôn nằm ở “đỉnh” thu nhập, nó chịu mức thuế cao hơn mức bình quân của cả lương. Đó là lý do thực nhận tăng ít hơn con số trên quyết định tăng lương.
Nhưng với biểu luỹ tiến từng phần, tăng lương không bao giờ làm thực nhận giảm: mỗi đồng tăng thêm chỉ bị đánh thuế theo một tỷ lệ nhỏ hơn 100%. Nếu thấy thực nhận giảm sau khi tăng lương, nguyên nhân nằm ở chỗ khác — thường là thay đổi khoản phụ cấp, số người phụ thuộc hoặc cách tính của bảng lương.
Thuế suất cận biên và thuế suất bình quân
Hai khái niệm này giải thích gần hết thắc mắc về lương và thuế:
- Thuế suất cận biên: thuế suất của bậc mà đồng thu nhập tiếp theo rơi vào. Đây là tỷ lệ áp cho phần tăng thêm.
- Thuế suất bình quân: tổng thuế chia cho thu nhập tính thuế. Con số này luôn nhỏ hơn thuế suất cận biên khi thu nhập vượt bậc 1.
Người lao động thường nhìn vào thuế suất bình quân của tháng trước để đoán thuế của phần tăng thêm, nên đoán thấp. Phòng nhân sự thì hay nói “lên bậc thuế mới” như thể cả lương chịu mức mới, nên người nghe tưởng mình thiệt nhiều hơn thực tế. Cả hai cách hiểu đều lệch.
Ví dụ tăng lương với một biểu giả định
Dùng cùng một biểu giả định ba bậc để minh hoạ (thuế suất không phải mức thật): đến 10 triệu — 4%; trên 10 đến 25 triệu — 12%; trên 25 triệu — 22%. Người lao động độc thân, không người phụ thuộc, giảm trừ bản thân 15,5 triệu đồng/tháng. Giả sử phần bảo hiểm bắt buộc tự đóng tương ứng khoảng một phần mười thu nhập trong ví dụ này (con số làm tròn để dễ theo dõi, không phải tỷ lệ thật).
| Khoản (triệu đồng/tháng) | Trước tăng lương | Sau tăng lương | Chênh lệch |
|---|---|---|---|
| Thu nhập chịu thuế | 35 | 40 | +5 |
| Bảo hiểm tự đóng (giả định) | 3,5 | 4 | +0,5 |
| Giảm trừ bản thân | 15,5 | 15,5 | 0 |
| Thu nhập tính thuế | 16 | 20,5 | +4,5 |
| Thuế (biểu giả định) | 0,4 + 6 × 12% = 1,12 | 0,4 + 10,5 × 12% = 1,66 | +0,54 |
| Thực nhận | 30,38 | 34,34 | +3,96 |
Tăng 5 triệu đồng, thực nhận tăng gần 4 triệu đồng. Phần 1,04 triệu đồng “hụt” gồm 0,5 triệu bảo hiểm và 0,54 triệu thuế — thuế của phần tăng thêm tính đúng 12% trên 4,5 triệu, tức thuế suất cận biên. Trong khi đó thuế suất bình quân sau tăng lương chỉ khoảng 8,1%.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Khoản bị trừ khỏi phần tăng thêm | Căn cứ tính | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|
| Bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp phần người lao động | Tiền lương đóng bảo hiểm, có mức trần | Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Việc làm và văn bản hướng dẫn hiện hành |
| Thuế TNCN của phần tăng thêm | Thu nhập tính thuế × thuế suất bậc cận biên | Luật Thuế TNCN sửa đổi; Nghị định 253/2026/NĐ-CP; Thông tư 87/2026/TT-BTC |
| Giảm trừ gia cảnh | Cố định theo tháng, không tăng theo lương | Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15: 15,5 triệu và 6,2 triệu đồng |
| Khoản không tính vào thu nhập chịu thuế | Theo từng loại phụ cấp, trong giới hạn | Văn bản hướng dẫn thuế TNCN hiện hành |
Hai điểm hay bị bỏ qua: bảo hiểm có mức trần tiền lương đóng, nên với người lương cao, vượt trần thì phần tăng thêm không còn bị trừ bảo hiểm nữa; và giảm trừ gia cảnh cố định, nên càng lương cao, giảm trừ càng chiếm tỷ trọng nhỏ.
Tháng có thưởng: khấu trừ nhiều, quyết toán cân lại
Thưởng Tết, thưởng hiệu quả hay lương tháng 13 trả dồn vào một tháng làm thu nhập tháng đó vọt lên, chạm bậc cao hơn, nên số thuế khấu trừ tháng đó lớn bất thường. Nhiều người nghĩ “thưởng bị đánh thuế nặng”.
Thực ra thuế TNCN từ tiền lương tính theo năm. Khi quyết toán, toàn bộ thu nhập cả năm được cộng lại và áp biểu năm. Nếu các tháng khác thu nhập thấp hơn, tổng số đã khấu trừ có thể cao hơn số thuế thật của năm và người lao động được hoàn hoặc bù trừ phần nộp thừa. Nói cách khác, với người chỉ có một nguồn thu nhập và được quyết toán đầy đủ, chia thưởng đều hay trả dồn thì tổng thuế cả năm như nhau; chỉ khác thời điểm tiền thuế rời túi.
Điều này không đúng nếu người lao động bỏ qua quyết toán hoặc đổi việc giữa năm mà không tổng hợp thu nhập. Khi đó phần khấu trừ thừa của tháng có thưởng nằm yên trên hệ thống.
Lương thoả thuận sau thuế: ai chịu phần tăng
Có doanh nghiệp thoả thuận lương “thực nhận” (thường gọi là lương net). Khi đó doanh nghiệp phải quy đổi ngược ra thu nhập chịu thuế để kê khai, và phần thuế tăng thêm do tăng lương do doanh nghiệp chịu. Tăng lương net 5 triệu đồng tốn của doanh nghiệp nhiều hơn 5 triệu đồng, vì khoản doanh nghiệp nộp thay cũng là thu nhập chịu thuế của người lao động.
- Hợp đồng nên ghi rõ con số là trước hay sau thuế, trước hay sau bảo hiểm.
- Khi biểu thuế hoặc giảm trừ thay đổi, lương net giữ nguyên nhưng chi phí của doanh nghiệp thay đổi. Giảm trừ tăng từ 2026 làm chi phí lương net giảm, doanh nghiệp nên tính lại.
- Người lao động có thu nhập từ nơi khác thì vẫn tự chịu phần thuế phát sinh khi quyết toán tổng hợp, trừ khi thoả thuận khác.
Người đang dưới ngưỡng chịu thuế được tăng lương
Với giảm trừ bản thân 15,5 triệu đồng/tháng từ kỳ tính thuế 2026, cộng thêm phần bảo hiểm tự đóng và giảm trừ người phụ thuộc, nhiều người lao động có thu nhập tính thuế bằng 0. Khi được tăng lương, họ có thể lần đầu phát sinh thuế. Cảm giác “vừa tăng lương đã bị thu thuế” rất rõ, nhưng số thuế thực tế nhỏ: chỉ phần vượt qua tổng giảm trừ mới chịu thuế, và chịu ở bậc thấp nhất.
Ví dụ giả định: người độc thân có thu nhập sau bảo hiểm 15 triệu đồng/tháng, dưới mức giảm trừ nên không có thuế. Tăng lương làm thu nhập sau bảo hiểm thành 17 triệu đồng. Thu nhập tính thuế là 1,5 triệu đồng, chịu thuế suất bậc 1 của biểu hiện hành. Với biểu giả định 4% ở bậc 1 (không phải mức thật), thuế chỉ 60 nghìn đồng/tháng.
Người có người phụ thuộc thì ngưỡng này cao hơn nhiều: mỗi người phụ thuộc đã đăng ký cộng thêm 6,2 triệu đồng/tháng vào tổng giảm trừ. Đăng ký người phụ thuộc đúng và sớm là việc có lợi rõ ràng nhất mà người lao động tự làm được.
Khi thực nhận giảm dù được tăng lương: soát bốn chỗ
- Phụ cấp đổi tên: một khoản trước đây không tính vào thu nhập chịu thuế (trong giới hạn) nay gộp vào lương chính, nên bị tính thuế.
- Người phụ thuộc bị hết hạn hoặc chuyển sang người khác đăng ký; giảm trừ giảm 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người.
- Tiền lương đóng bảo hiểm được điều chỉnh cùng đợt tăng lương, kể cả phần truy đóng các tháng trước.
- Bảng lương dùng biểu hoặc số trừ cũ sau khi quy định thay đổi.
Tự kiểm tra ở ứng dụng thuế trên điện thoại hoặc tài khoản thuế điện tử cá nhân: xem thu nhập và số thuế nơi trả thu nhập đã kê khai cho từng tháng, thông tin người phụ thuộc đang được ghi nhận. Đối chiếu với phiếu lương là thấy lệch ở đâu.
Câu hỏi thường gặp
Có nên từ chối tăng lương để không lên bậc thuế?
Không có lý do về thuế để làm vậy. Phần tăng thêm chỉ chịu thuế suất của bậc nó rơi vào, thực nhận vẫn tăng. Phần thu nhập cũ không bị tính lại theo mức cao hơn.
Thuế của tiền thưởng có tính riêng với thuế suất khác không?
Thưởng gắn với công việc được cộng vào thu nhập từ tiền lương, tiền công và tính theo biểu luỹ tiến. Một số khoản thưởng đặc thù được miễn theo quy định. Thưởng kiểu trúng thưởng, khuyến mại là loại thu nhập khác, không thuộc tiền lương.
Tăng lương giữa năm có làm phải nộp thêm khi quyết toán không?
Nếu các tháng đã khấu trừ đúng theo biểu tháng thì chênh lệch khi quyết toán thường nhỏ. Nộp thêm hay hoàn tuỳ vào phân bố thu nhập các tháng và giảm trừ được tính đủ chưa.
Lương vượt mức trần bảo hiểm thì phần vượt chịu gì?
Phần vượt trần không bị trừ bảo hiểm bắt buộc, nên chỉ còn thuế TNCN theo thuế suất cận biên. Mức trần cụ thể tra ở văn bản về bảo hiểm xã hội hiện hành.
Người lao động có thể tự tính thuế suất cận biên của mình không?
Có. Tính thu nhập tính thuế của tháng, tra xem nó nằm ở bậc nào trong biểu hiện hành; thuế suất của bậc đó là thuế suất cận biên. Mỗi triệu đồng tăng thêm sẽ chịu thuế theo mức này cho tới khi chạm bậc kế tiếp.
Giảm trừ gia cảnh tăng từ 2026 có làm thực nhận tăng không?
Với người có thu nhập tính thuế, giảm trừ tăng làm thu nhập tính thuế giảm, nên thuế giảm và thực nhận tăng dù lương không đổi. Mức tăng thực nhận bằng phần giảm trừ tăng thêm nhân với thuế suất cận biên của người đó, nếu thu nhập tính thuế không lùi xuống bậc thấp hơn.