ThueSuat.comThuế Suất
Thuế suất toàn phần TNCN

Tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại: thuế thu nhập cá nhân tính trên phần nào

Tác giả bán quyền sử dụng tác phẩm, kỹ sư chuyển giao công nghệ, chủ thương hiệu cho người khác nhượng quyền — thuế không tính trên toàn bộ tiền nhận mà trên phần vượt một ngưỡng của mỗi hợp đồng. Bài này giải thích cơ chế đó và cách phân biệt với nhuận bút, thù lao.

Nhà thiết kế trẻ và luật sư rà một bản hợp đồng chuyển giao quyền trong phòng làm việc sáng

Thuế thu nhập cá nhân với tiền bản quyền và tiền nhượng quyền thương mại tính theo thuế suất toàn phần trên phần thu nhập vượt một ngưỡng của mỗi hợp đồng, không trừ chi phí, không áp biểu luỹ tiến, không giảm trừ gia cảnh. Ngưỡng tính theo cả hợp đồng chứ không theo từng lần nhận tiền: một hợp đồng thanh toán mười đợt vẫn chỉ được trừ ngưỡng một lần.

Mức ngưỡng và thuế suất cụ thể nằm trong Luật Thuế TNCN sửa đổi và văn bản hướng dẫn (Nghị định 253/2026/NĐ-CP, Thông tư 87/2026/TT-BTC); bài này dùng ký hiệu để giải thích cơ chế. Phần quan trọng hơn cả con số là xếp đúng loại thu nhập: nhiều khoản nghe như “bản quyền” nhưng thực chất là thù lao, và ngược lại.

Hai loại thu nhập, cùng một cách tính

Thu nhập từ bản quyền là khoản cá nhân nhận được khi chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ — quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu), quyền đối với giống cây trồng — và khi chuyển giao công nghệ.

Thu nhập từ nhượng quyền thương mại là khoản cá nhân nhận được khi cho người khác kinh doanh theo cách thức, thương hiệu, bí quyết của mình theo hợp đồng nhượng quyền, kể cả nhượng quyền lại.

Hai loại có chung khung tính:

  • Căn cứ là phần giá trị hợp đồng vượt ngưỡng luật quy định.
  • Thuế suất là một mức cố định cho mọi mức thu nhập vượt ngưỡng.
  • Không trừ chi phí tạo ra tác phẩm, công nghệ hay xây dựng thương hiệu.
  • Bên trả tiền là tổ chức, cá nhân kinh doanh tại Việt Nam thì khấu trừ khi trả.

Minh hoạ: ngưỡng tính theo hợp đồng

Dùng ký hiệu (không phải mức thật): ngưỡng là N, thuế suất là x%.

  1. Một nhà văn chuyển giao quyền xuất bản cuốn sách cho một nhà xuất bản, tổng giá trị hợp đồng là G, trả làm ba đợt G1, G2, G3.
  2. Thu nhập tính thuế của cả hợp đồng là G − N (nếu G lớn hơn N). Thuế phải nộp là (G − N) × x%.
  3. Nếu G1 nhỏ hơn N, đợt đầu chưa phải khấu trừ. Tới đợt mà tổng đã trả vượt N, bên trả khấu trừ trên phần vượt luỹ kế. Các đợt sau khấu trừ trên toàn bộ số tiền đợt đó.

Hệ quả đáng chú ý: bên trả tiền phải theo dõi luỹ kế theo từng hợp đồng, không thể xử lý từng lần chi như khoản thù lao rời rạc. Kế toán bên trả nên mở sổ theo dõi riêng cho các hợp đồng bản quyền, nhượng quyền.

Với nhượng quyền thương mại, hợp đồng thường có phí ban đầu F và phí định kỳ R trả hằng tháng trong T tháng. Giá trị hợp đồng dùng để trừ ngưỡng là tổng các khoản theo hợp đồng, F + R × T nếu xác định được từ đầu. Phí định kỳ tính theo phần trăm doanh thu của bên nhận quyền thì giá trị chỉ biết dần theo thời gian; bên trả vẫn cộng luỹ kế từ khoản đầu tiên để biết lúc nào vượt ngưỡng. Gia hạn hợp đồng bằng một phụ lục thì cần xem phụ lục đó là phần của hợp đồng cũ hay là một hợp đồng mới — ảnh hưởng tới việc có được trừ ngưỡng thêm lần nữa hay không.

Chiều ngược lại: chia một hợp đồng thành nhiều hợp đồng nhỏ để mỗi cái đều dưới ngưỡng là cách làm rủi ro. Nếu nội dung các hợp đồng thực chất là một giao dịch, cơ quan thuế có căn cứ gộp lại và tính thuế, kèm tiền chậm nộp.

Đồng tác giả, đồng sở hữu: chia trước, trừ ngưỡng sau

Tác phẩm có nhiều tác giả, sáng chế có nhiều chủ sở hữu, thương hiệu do hai người cùng đứng tên — theo hướng dẫn lâu nay, thu nhập được phân chia cho từng cá nhân theo tỷ lệ sở hữu ghi trong giấy tờ, và mỗi người xác định phần vượt ngưỡng trên phần của mình.

Để áp dụng được, cần:

  • Giấy chứng nhận đăng ký quyền hoặc văn bản thoả thuận ghi rõ tỷ lệ của từng người.
  • Hợp đồng với bên trả tiền nêu tên đầy đủ các đồng chủ sở hữu, hoặc có văn bản uỷ quyền cho một người đại diện nhận tiền kèm bảng phân chia.
  • Chứng từ khấu trừ lập cho từng người theo phần của họ.

Không có tỷ lệ bằng văn bản mà một người đứng ra nhận toàn bộ thì dễ bị tính thuế như thể toàn bộ là thu nhập của người đó — và việc chuyển lại tiền cho những người còn lại trở thành một giao dịch khác khó giải thích.

Nhuận bút, thù lao hay bản quyền: xếp nhầm là tính sai

Nhiều khoản tiền mà người sáng tác nhận được không phải thu nhập từ bản quyền theo nghĩa thuế:

Khoản nhậnThường được xếp vàoCách tính thường gặp
Nhuận bút, thù lao khi tác phẩm được đăng, phát, sử dụng theo chế độ nhuận bútTiền lương, tiền công (thù lao)Khấu trừ 10% với khoản từ 2 triệu đồng/lần nếu không có hợp đồng lao động; cuối năm cộng vào quyết toán
Tiền đặt hàng sáng tác (viết kịch bản, thiết kế logo) mà quyền thuộc về bên đặt hàng ngay từ đầuThù lao cung cấp dịch vụ hoặc kinh doanh, tuỳ tính thường xuyênKhấu trừ 10% hoặc tỷ lệ trên doanh thu
Chuyển nhượng, chuyển giao quyền đối với tác phẩm, sáng chế, nhãn hiệu đã cóBản quyềnPhần vượt ngưỡng theo hợp đồng × thuế suất toàn phần
Phí nhượng quyền thương hiệu, cách thức kinh doanhNhượng quyền thương mạiNhư trên

Cách phân loại chi tiết nằm ở văn bản hướng dẫn thuế TNCN hiện hành; bảng trên là hướng đọc thường gặp. Điều đáng nhớ: nội dung hợp đồng quyết định loại thu nhập. Hợp đồng đặt hàng sáng tác có điều khoản “bên B chuyển giao toàn bộ quyền” vẫn có thể bị coi là dịch vụ nếu tác phẩm được tạo ra theo đơn đặt hàng.

Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành

NhómCăn cứ tínhThuế suấtNơi tra mức hiện hành
Chuyển nhượng, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao công nghệPhần giá trị hợp đồng vượt ngưỡng, theo từng hợp đồngMức cố định (toàn phần)Luật Thuế TNCN sửa đổi; Nghị định 253/2026/NĐ-CP; Thông tư 87/2026/TT-BTC
Nhượng quyền thương mại, kể cả nhượng quyền lạiPhần giá trị hợp đồng vượt ngưỡngMức cố định (toàn phần)Như trên
Đồng sở hữuPhần của từng người theo tỷ lệNhư trênNhư trên, phần hướng dẫn phân chia
Nhuận bút, thù lao (để so sánh)Khoản trả mỗi lầnKhấu trừ 10% từ 2 triệu đồng/lần; quyết toán theo biểu luỹ tiếnNhư trên, phần thu nhập từ tiền lương, tiền công

Nhận tiền bản quyền từ nước ngoài và những việc bên trả cần làm

Người nhận là cá nhân cư trú, bên trả ở nước ngoài (nhà xuất bản, hãng phim, nền tảng nước ngoài): không có ai ở Việt Nam khấu trừ, người nhận tự khai theo lần phát sinh với cơ quan thuế quản lý. Nếu nước kia đã khấu trừ thuế, xét trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài và hiệp định thuế liên quan.

Bên trả là doanh nghiệp Việt Nam, những việc hay sót:

  • Theo dõi luỹ kế theo hợp đồng để biết đợt nào bắt đầu khấu trừ.
  • Lập chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân sau mỗi lần khấu trừ.
  • Khai khoản khấu trừ vào tờ khai thuế TNCN của kỳ.
  • Giữ hợp đồng, văn bản xác định tỷ lệ đồng sở hữu, giấy chứng nhận đăng ký quyền.
  • Xem thêm nghĩa vụ thuế GTGT (nếu có) với khoản thanh toán — chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ lâu nay nằm trong diện không chịu thuế GTGT, còn phí nhượng quyền thương mại cần xét riêng.

Tự kiểm tra ở đâu

  1. Tài khoản thuế điện tử cá nhân hoặc ứng dụng thuế trên điện thoại: xem khoản thu nhập và số thuế bên trả đã khai khấu trừ cho mình.
  2. Chứng từ khấu trừ bên trả gửi: kiểm tra loại thu nhập ghi trên chứng từ (bản quyền hay tiền công) có đúng với hợp đồng không.
  3. Thuế cơ sở quản lý nơi cư trú: hỏi kỳ khai khi tự nhận tiền từ nước ngoài.

Muốn so với các loại thu nhập tính theo thuế suất toàn phần khác, xem bài thuế suất toàn phần với đầu tư, chuyển nhượng, bản quyền, trúng thưởng.

Câu hỏi thường gặp

Hợp đồng bản quyền trả theo phần trăm doanh thu nhiều năm thì trừ ngưỡng thế nào?

Ngưỡng tính theo hợp đồng, nên chỉ được trừ một lần cho cả hợp đồng dù thanh toán kéo dài nhiều năm. Bên trả cần theo dõi luỹ kế số đã trả từ đầu hợp đồng để xác định lúc bắt đầu khấu trừ.

Bán bản quyền bài hát cho nhiều bên khác nhau thì mỗi hợp đồng có được trừ ngưỡng riêng không?

Theo cách tính theo từng hợp đồng chuyển giao, mỗi hợp đồng với một bên là một căn cứ riêng. Tuy vậy, nếu các hợp đồng thực chất là một giao dịch bị chia nhỏ thì có thể bị gộp lại.

Tiền bản quyền có phải cộng vào quyết toán thuế tiền lương cuối năm không?

Không. Thu nhập từ bản quyền tính theo thuế suất toàn phần, thuế đã khấu trừ hoặc tự khai theo lần phát sinh là xong nghĩa vụ, không cộng vào biểu luỹ tiến khi quyết toán tiền lương.

Cho người khác dùng tên quán, công thức món ăn của mình và thu phí hằng tháng có phải nhượng quyền không?

Nếu thoả thuận cho phép người khác kinh doanh theo thương hiệu và cách thức của mình, có kiểm soát và thu phí, thì thường là nhượng quyền thương mại. Thu nhập tính theo phần vượt ngưỡng của hợp đồng.

Chủ sở hữu nhãn hiệu là công ty chứ không phải cá nhân thì sao?

Khi đó khoản nhận là doanh thu của công ty, tính thuế thu nhập doanh nghiệp, không phải thuế thu nhập cá nhân. Nhãn hiệu đứng tên ai thì người đó là chủ thể nhận thu nhập.

Việc tiếp theo

Cần người xem hồ sơ cụ thể? Gửi câu hỏi, người phụ trách sẽ gọi lại.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin và câu hỏi, người phụ trách sẽ gọi lại cho bạn.

hoặc
Gọi ngay 0918 832 283