Tiền lãi cá nhân nhận được khi cho doanh nghiệp vay là thu nhập từ đầu tư vốn, chịu thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất toàn phần trên tổng số tiền lãi nhận được mỗi lần, không trừ chi phí và không giảm trừ gia cảnh. Doanh nghiệp trả lãi có trách nhiệm khấu trừ thuế trước khi trả và nộp thay; người cho vay nhận phần còn lại kèm chứng từ khấu trừ.
Khác biệt lớn nhất với gửi tiết kiệm: lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng được miễn thuế thu nhập cá nhân, còn lãi cho doanh nghiệp vay thì không. Thuế suất cụ thể của nhóm đầu tư vốn tra ở Luật Thuế TNCN sửa đổi và văn bản hướng dẫn; bài này dùng ký hiệu x% để giải thích cách tính và những việc cả hai bên nên làm.
Cách tính: lãi mỗi lần nhân một mức cố định
Ký hiệu (không phải mức thật): thuế suất với thu nhập từ đầu tư vốn là x%.
- Hợp đồng vay trả lãi hằng quý, lãi quý I là I1. Khi trả, doanh nghiệp khấu trừ I1 × x% và chuyển cho người cho vay I1 × (100 − x)%.
- Các quý sau làm tương tự. Không có ngưỡng miễn, không có bậc: lãi lớn hay nhỏ đều cùng một mức.
- Người cho vay không được trừ chi phí của mình — kể cả khi chính họ đi vay ngân hàng để lấy tiền cho công ty vay lại.
Thu nhập này không cộng vào quyết toán thuế tiền lương cuối năm. Thuế đã khấu trừ theo từng lần là hoàn tất nghĩa vụ với khoản lãi đó.
Thời điểm tính thuế gắn với thời điểm trả lãi. Trường hợp lãi không trả bằng tiền mà nhập vào gốc hoặc chuyển thành vốn góp, đó vẫn là một lần trả thu nhập; cách xác định thời điểm và giá trị theo hướng dẫn hiện hành, không nên coi là “chưa nhận nên chưa có thuế”.
Lãi nào miễn, lãi nào chịu thuế
| Loại lãi | Xử lý thuế TNCN thường gặp |
|---|---|
| Lãi tiền gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng | Miễn thuế |
| Lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ | Miễn thuế |
| Lãi cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế vay | Chịu thuế thu nhập từ đầu tư vốn |
| Lãi trái phiếu doanh nghiệp | Chịu thuế thu nhập từ đầu tư vốn |
| Lãi một số loại trái phiếu do Nhà nước phát hành | Có quy định miễn riêng — tra danh sách thu nhập miễn thuế |
| Lãi cho cá nhân khác vay | Là thu nhập từ đầu tư vốn; người nhận thường tự khai |
Danh sách thu nhập miễn thuế nằm ở Luật Thuế TNCN; khi có loại lãi mới (chứng chỉ tiền gửi của công ty tài chính, sản phẩm đầu tư có kỳ hạn của công ty chứng khoán), phải xét tổ chức phát hành có phải tổ chức tín dụng nhận tiền gửi hay không trước khi coi là miễn.
Việc của doanh nghiệp đi vay
Phía doanh nghiệp có hai nghĩa vụ song song: khấu trừ thuế cho người cho vay và giữ đủ điều kiện để chi phí lãi được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Hợp đồng vay bằng văn bản: số tiền, lãi suất, kỳ trả lãi, thời hạn, mục đích.
- Nhận tiền vay và trả gốc, lãi qua tài khoản ngân hàng. Vay bằng tiền mặt vừa khó chứng minh, vừa trái với các quy định về giao dịch vay của doanh nghiệp.
- Lãi suất không vượt mức trần tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố — phần lãi vượt trần không được trừ khi tính thuế TNDN, dù vẫn phải khấu trừ thuế TNCN trên toàn bộ tiền lãi đã trả.
- Vốn điều lệ đã góp đủ: chi phí lãi vay tương ứng phần vốn điều lệ còn thiếu theo cam kết không được trừ.
- Người cho vay là bên liên kết (chủ sở hữu, cổ đông lớn, người quản lý và người thân): tổng chi phí lãi vay còn bị giới hạn theo quy định về giao dịch liên kết (từ 1/7/2026 đối chiếu Nghị định 255/2026/NĐ-CP).
- Khấu trừ, khai, nộp thuế TNCN trên tiền lãi theo kỳ khai thuế TNCN của doanh nghiệp, lập chứng từ khấu trừ cho người cho vay.
Thiếu điều 6 là lỗi hay gặp nhất ở công ty nhỏ vay tiền của chính giám đốc hay người nhà: trả lãi đều đặn, ghi chi phí đầy đủ, nhưng không ai khấu trừ thuế.
Lãi ghi trong hợp đồng là trước thuế hay sau thuế
Nhiều hợp đồng vay giữa cá nhân và công ty nhỏ ghi một câu kiểu “lãi suất y%/năm” mà không nói rõ đó là lãi trước thuế hay số người cho vay thực nhận. Khi tới kỳ trả, hai bên mới vỡ lẽ mỗi người hiểu một kiểu.
- Lãi trước thuế (cách hiểu mặc định nếu không ghi gì khác): doanh nghiệp tính lãi I theo lãi suất, khấu trừ I × x%, chuyển phần còn lại.
- Lãi thực nhận (hợp đồng ghi rõ doanh nghiệp chịu thuế thay): doanh nghiệp phải quy ngược ra lãi trước thuế theo công thức I = số thực nhận ÷ (100% − x%), rồi khấu trừ trên I. Chi phí lãi vay của doanh nghiệp khi đó là I, không phải số thực nhận.
Cách thứ hai làm chi phí lãi thực tế cao hơn lãi suất ghi trên giấy, và có thể đẩy lãi suất quy đổi vượt mức trần được trừ. Nên ghi rõ ngay trong hợp đồng: lãi suất là trước thuế, bên vay khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo quy định khi trả.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Nhóm | Căn cứ tính | Thuế suất / cách xử lý | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Lãi cá nhân cho doanh nghiệp vay | Tổng tiền lãi mỗi lần trả | Mức cố định nhóm đầu tư vốn; doanh nghiệp khấu trừ | Luật Thuế TNCN sửa đổi; Nghị định 253/2026/NĐ-CP; Thông tư 87/2026/TT-BTC |
| Lãi tiền gửi tổ chức tín dụng | — | Miễn thuế | Luật Thuế TNCN, danh sách thu nhập miễn thuế |
| Lãi cá nhân cho cá nhân vay | Tiền lãi nhận | Mức cố định nhóm đầu tư vốn; thường tự khai | Như dòng đầu |
| Chi phí lãi vay của doanh nghiệp trả cho cá nhân | Lãi thực trả, trong mức trần | Được trừ khi đủ điều kiện | Luật 67/2025/QH15 và nghị định hướng dẫn; Nghị định 255/2026/NĐ-CP với bên liên kết |
Những tình huống dễ nhầm
- Cổ đông cho công ty vay không lấy lãi. Không có tiền lãi thì không có thu nhập tính thuế với người cho vay; doanh nghiệp cũng không có chi phí lãi. Vẫn nên có hợp đồng vay để phân biệt với góp vốn.
- Lãi ghi trên sổ nhưng chưa trả. Doanh nghiệp ghi nhận chi phí lãi phải trả theo kỳ, nhưng việc khấu trừ thuế TNCN gắn với thời điểm trả. Để lãi treo nhiều năm rồi trả một lần vẫn phải khấu trừ đủ lúc trả.
- Chuyển khoản vay thành vốn góp. Gốc vay chuyển thành vốn không phát sinh thu nhập; nhưng lãi cộng dồn chuyển thành vốn là một lần trả lãi.
- Cho vay thường xuyên cho nhiều người để lấy lãi. Đây không còn là đầu tư vốn thông thường mà có thể là hoạt động cho vay phải có giấy phép. Về thuế, việc khai đủ không hợp thức hoá một hoạt động không được phép.
- Người cho vay là người không cư trú. Doanh nghiệp vẫn khấu trừ khi trả lãi; nếu có hiệp định thuế với nước của người cho vay, xem điều khoản về tiền lãi và thủ tục áp dụng hiệp định.
Tự kiểm tra ở đâu
- Tài khoản thuế điện tử cá nhân hoặc ứng dụng thuế trên điện thoại của người cho vay: xem doanh nghiệp đã khai khấu trừ khoản lãi cho mình chưa.
- Sổ chi tiết tài khoản vay và chi phí lãi vay của doanh nghiệp: mỗi lần trả lãi phải khớp với một dòng khấu trừ trên tờ khai thuế TNCN cùng kỳ.
- Sao kê ngân hàng hai bên: tiền vay vào, lãi ra phải đi qua tài khoản, cùng tên với hợp đồng.
Muốn xem các điều kiện chung để một khoản chi được tính vào chi phí, có thể đọc thêm mục chi phí được trừ TNDN trên Khấu Trừ.
Câu hỏi thường gặp
Giám đốc cho chính công ty mình vay thì có phải khấu trừ thuế lãi không?
Có. Người cho vay là cá nhân, khoản lãi là thu nhập từ đầu tư vốn, dù người đó là giám đốc hay chủ sở hữu. Ngoài ra, chi phí lãi vay trả cho người có quan hệ liên kết còn chịu giới hạn riêng.
Công ty lỗ có phải khấu trừ thuế trên tiền lãi trả cho cá nhân không?
Có. Nghĩa vụ khấu trừ thuế TNCN của người cho vay không phụ thuộc kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đi vay.
Tiền lãi có phải cộng vào quyết toán thuế tiền lương của người cho vay không?
Không. Thu nhập từ đầu tư vốn tính theo thuế suất toàn phần theo từng lần, không cộng vào biểu luỹ tiến tiền lương.
Cho em ruột vay tiền có lãi thì sao?
Về nguyên tắc tiền lãi vẫn là thu nhập từ đầu tư vốn. Người đi vay là cá nhân không kinh doanh thường không có nghĩa vụ khấu trừ, người cho vay tự khai theo quy định. Cho vay không lấy lãi thì không phát sinh thu nhập.
Lãi suất trong hợp đồng vượt mức trần thì thuế TNCN tính trên toàn bộ hay phần trong trần?
Thuế TNCN tính trên toàn bộ tiền lãi người cho vay thực nhận. Mức trần chỉ giới hạn phần chi phí doanh nghiệp được trừ khi tính thuế TNDN.
Người cho vay có phải xuất hoá đơn cho khoản lãi không?
Không. Cá nhân cho vay không kinh doanh không lập hoá đơn cho tiền lãi. Chứng từ để doanh nghiệp ghi chi phí là hợp đồng vay, chứng từ chuyển tiền trả lãi qua ngân hàng và chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đã lập cho người cho vay.
Doanh nghiệp quên khấu trừ mấy năm thì xử lý thế nào?
Doanh nghiệp khai bổ sung tờ khai thuế TNCN các kỳ đã trả lãi, nộp số thuế lẽ ra phải khấu trừ và tiền chậm nộp. Việc thu lại tiền thuế từ người cho vay là thoả thuận giữa hai bên, không làm mất nghĩa vụ của doanh nghiệp.