Than đá chịu thuế bảo vệ môi trường theo mức tuyệt đối trên mỗi tấn, không theo phần trăm giá bán. Mức được chia theo loại than — than nâu, than an-tra-xít, than mỡ, than đá khác — và chỉ nộp một lần: khi than được khai thác rồi bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, hoặc khi than được nhập khẩu. Các khâu thương mại sau đó không nộp lại.
Luật Thuế bảo vệ môi trường đặt khung mức cho từng loại than; biểu mức cụ thể do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành và có thể điều chỉnh. Bài này không nêu số tiền trên mỗi tấn mà giải thích cách tính, khâu nộp, và cách tách thuế này khỏi hai khoản cùng đánh vào than là thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.
Ba khoản cùng đánh vào than: đừng gộp làm một
| Khoản | Đánh vào việc gì | Căn cứ | Ai nộp |
|---|---|---|---|
| Thuế tài nguyên | Khai thác tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân | Sản lượng tính thuế × giá tính thuế × thuế suất (phần trăm) | Đơn vị khai thác |
| Thuế bảo vệ môi trường | Tiêu dùng một loại hàng gây tác động xấu tới môi trường | Số tấn × mức tuyệt đối theo loại than | Đơn vị khai thác khi bán ra, tiêu dùng; đơn vị nhập khẩu |
| Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản | Tác động của hoạt động khai thác tại địa phương | Sản lượng khai thác × mức phí do địa phương quy định trong khung | Đơn vị khai thác |
Ba khoản có ba căn cứ khác nhau, khai trên ba loại tờ khai khác nhau. Doanh nghiệp khai thác thường nộp cả ba; doanh nghiệp nhập khẩu than chỉ gặp thuế bảo vệ môi trường (cùng thuế nhập khẩu, GTGT khâu nhập khẩu). Ngoài ra còn tiền cấp quyền khai thác khoáng sản — không phải thuế, nhưng cũng là một khoản gắn với mỏ.
Cách tính: số tấn nhân mức theo loại
Công thức gọn: Thuế BVMT = Số lượng than tính thuế (tấn) × Mức thuế tuyệt đối của loại than đó.
Ký hiệu (không phải mức thật): một mỏ bán ra trong tháng Q1 tấn than an-tra-xít và Q2 tấn than đá khác; mức tương ứng là m1 và m2 đồng/tấn. Thuế BVMT của tháng = Q1 × m1 + Q2 × m2.
Vì tính theo khối lượng, giá bán lên hay xuống không làm số thuế đổi. Than giá thấp và than giá cao cùng loại chịu cùng số tiền trên mỗi tấn. Điều này ngược với thuế tài nguyên, vốn tính theo phần trăm của giá.
Chỗ cần chú ý là xếp đúng loại than. Tên thương mại (than cục, than cám số mấy) không phải là loại than trong biểu thuế. Xếp loại dựa vào đặc tính và mã phân loại theo hướng dẫn; khi một mỏ có nhiều loại than, sổ kho phải tách theo loại trong biểu, không chỉ theo cỡ hạt.
Khi than bán ra chưa qua sàng tuyển, còn lẫn đất đá, khối lượng tính thuế có thể phải quy đổi theo hướng dẫn chứ không lấy nguyên khối lượng cân. Không tự đặt tỷ lệ quy đổi nội bộ khi chưa có căn cứ.
Khâu nộp: khai thác, nhập khẩu, tiêu dùng nội bộ
- Khai thác rồi bán ra, trao đổi, tặng cho, khuyến mại: đơn vị khai thác nộp, thời điểm tính thuế gắn với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng than.
- Nhập khẩu: người nhập khẩu nộp cùng lúc với thuế nhập khẩu, thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
- Tiêu dùng nội bộ: than khai thác được đưa vào dùng (chạy lò hơi, phát điện cho chính mỏ, dùng cho phân xưởng khác). Hướng dẫn phân biệt than dùng để tiếp tục quá trình sản xuất than với than dùng cho mục đích khác — hai loại có cách xử lý khác nhau, cần tra đúng điều khoản.
- Mô hình tập đoàn: đơn vị thành viên khai thác giao than cho một đơn vị tiêu thụ trong cùng hệ thống. Hướng dẫn có quy định riêng về đơn vị nào là người nộp thuế trong mô hình này; không mặc định là đơn vị khai thác.
Than do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc uỷ thác xuất khẩu thuộc diện không chịu thuế bảo vệ môi trường theo danh sách luật liệt kê; than mua gom của đơn vị khác rồi xuất khẩu không đương nhiên được hưởng. Hàng quá cảnh, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất cũng có quy định riêng.
Những tình huống hay nhầm
- Than khai thác trước, bán sau ngày biểu thuế thay đổi. Thời điểm tính thuế gắn với lúc bán ra, nên than tồn kho bán sau ngày hiệu lực chịu mức mới, dù được khai thác từ trước.
- Than dùng để trao đổi, trả nợ, góp vốn. Không thu tiền nhưng vẫn là chuyển giao than cho người khác, nên vẫn tính thuế như bán ra.
- Hao hụt trong kho, trên đường vận chuyển. Hao hụt có quy định riêng về định mức; phần chênh vượt định mức không thể giải thích sẽ bị coi như đã tiêu thụ. Sổ kho theo từng bãi, từng chuyến là cách giữ số liệu đứng vững.
- Hàng bán bị trả lại. Than đã khai thuế khi bán, sau đó người mua trả lại vì không đạt chất lượng, được điều chỉnh theo hướng dẫn về hàng bán bị trả lại — cần biên bản và hoá đơn điều chỉnh, không tự trừ số tấn ở kỳ sau.
- Xuất khẩu qua đơn vị nhận uỷ thác khác với bán đứt cho công ty thương mại rồi họ tự xuất. Trường hợp đầu có thể thuộc diện không chịu thuế; trường hợp sau thì mỏ vẫn là bên bán trong nước.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Nhóm | Căn cứ tính | Mức | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Than nâu | Số tấn tính thuế | Mức tuyệt đối đồng/tấn | Luật Thuế bảo vệ môi trường (khung); nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về biểu thuế đang hiệu lực |
| Than an-tra-xít | Số tấn tính thuế | Mức tuyệt đối đồng/tấn | Như trên |
| Than mỡ | Số tấn tính thuế | Mức tuyệt đối đồng/tấn | Như trên |
| Than đá khác | Số tấn tính thuế | Mức tuyệt đối đồng/tấn | Như trên |
| Than trực tiếp xuất khẩu | — | Không chịu thuế theo điều kiện | Luật Thuế bảo vệ môi trường, danh sách không chịu thuế |
| Thuế tài nguyên than (để so sánh) | Sản lượng × giá tính thuế × thuế suất | Phần trăm theo biểu thuế tài nguyên | Luật Thuế tài nguyên, biểu thuế suất; bảng giá tính thuế của tỉnh |
Người mua than nhìn thấy thuế này ở đâu
Nhà máy xi măng, nhiệt điện, lò gạch, cơ sở sấy nông sản mua than không nộp thuế bảo vệ môi trường, nhưng trả nó qua giá. Ba điều nên biết:
- Thuế BVMT nằm trong giá tính thuế GTGT của than. Thuế GTGT tính trên giá đã gồm thuế BVMT.
- Thuế BVMT không được khấu trừ như thuế GTGT đầu vào. Nó là một phần chi phí mua nguyên liệu, đi vào giá thành sản phẩm.
- Mua than không rõ nguồn gốc (không hoá đơn, hoá đơn không khớp đơn vị khai thác hay nhập khẩu hợp pháp) vừa mất chi phí được trừ, vừa có rủi ro hàng hoá nhập lậu hoặc khai thác trái phép. Than rẻ hơn thị trường một cách bất thường là tín hiệu cần kiểm tra người bán.
Khi biểu thuế thay đổi, giá than bán ra thường đổi theo từ đúng ngày hiệu lực. Hợp đồng mua than dài hạn nên ghi rõ giá đã gồm thuế BVMT hay chưa, và cơ chế điều chỉnh khi mức thuế thay đổi.
Tự kiểm tra ở đâu
- Tài khoản thuế điện tử của doanh nghiệp: tờ khai thuế BVMT theo tháng, đối chiếu sản lượng tiêu thụ trên tờ khai với sổ kho theo từng loại than.
- Cổng hoá đơn điện tử: hoá đơn bán than trong tháng — khối lượng trên hoá đơn cộng lại phải khớp với số tấn khai thuế BVMT.
- Tờ khai hải quan với than nhập khẩu: số thuế BVMT đã nộp khâu nhập khẩu.
- Cơ quan thuế quản lý: hỏi bằng văn bản khi phân vân về loại than theo biểu hoặc về mô hình giao than nội bộ.
Cách đọc thuế tài nguyên với khoáng sản làm vật liệu xây dựng có ở bài thuế tài nguyên khai thác cát, đá, đất san lấp.
Câu hỏi thường gặp
Công ty thương mại mua than của mỏ rồi bán lại có phải nộp thuế bảo vệ môi trường không?
Không. Thuế đã nộp một lần ở khâu khai thác bán ra hoặc khâu nhập khẩu. Công ty thương mại chỉ kê khai thuế GTGT trên hàng bán ra.
Giá than giảm thì thuế bảo vệ môi trường có giảm không?
Không. Thuế tính theo số tấn nhân mức tuyệt đối nên không đổi theo giá bán. Chỉ khi biểu thuế thay đổi thì số thuế trên mỗi tấn mới đổi.
Than dùng để chạy lò hơi của chính mỏ có phải nộp thuế không?
Tuỳ mục đích sử dụng. Hướng dẫn phân biệt than dùng để tiếp tục quá trình sản xuất than với than dùng cho mục đích khác. Tra đúng điều khoản về tiêu dùng nội bộ trước khi kết luận.
Than nhập khẩu rồi tái xuất có phải nộp thuế bảo vệ môi trường không?
Hàng tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh có quy định riêng và thường không thuộc diện chịu thuế nếu đáp ứng điều kiện và làm đúng thủ tục hải quan. Nhập khẩu để tiêu thụ trong nước thì phải nộp.
Thuế bảo vệ môi trường có thể hiện trên hoá đơn không?
Thuế BVMT nằm trong giá bán; hoá đơn GTGT thể hiện giá đã gồm thuế BVMT và thuế GTGT tính trên giá đó. Người mua không khấu trừ khoản thuế BVMT này.
Doanh nghiệp tự xếp loại than theo tên thương mại có được không?
Không nên. Loại than trong biểu thuế xác định theo đặc tính và phân loại theo hướng dẫn, không theo tên gọi bán hàng. Xếp sai loại là khai sai mức thuế.