Thuế tài nguyên với cát, đá, sỏi, đất san lấp tính theo công thức Thuế = Sản lượng tài nguyên tính thuế × Giá tính thuế đơn vị × Thuế suất. Thuế suất là một tỷ lệ phần trăm theo biểu thuế suất thuế tài nguyên cho từng nhóm khoáng sản; giá tính thuế là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của đơn vị khai thác, nhưng không được thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trong khung giá của Bộ Tài chính.
Với đơn vị khai thác vật liệu xây dựng thông thường, hai chỗ gây tranh cãi nhiều nhất là sản lượng (nhất là khi đá được nghiền, sàng thành sản phẩm khác rồi mới bán) và giá (bán dưới bảng giá của tỉnh). Biểu thuế suất cụ thể tra ở luật và nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đang hiệu lực; bài này dùng ký hiệu.
Ba thành phần của công thức
| Thành phần | Là gì | Ai quyết định |
|---|---|---|
| Sản lượng tài nguyên tính thuế | Số lượng, khối lượng tài nguyên khai thác thực tế trong kỳ (m³, tấn) | Đơn vị khai thác tự xác định, có sổ sách; cơ quan thuế ấn định khi không xác định được |
| Giá tính thuế đơn vị | Giá bán một đơn vị sản phẩm tài nguyên chưa có thuế GTGT | Giá thực tế của đơn vị, nhưng không thấp hơn bảng giá tính thuế của tỉnh |
| Thuế suất | Tỷ lệ phần trăm theo nhóm khoáng sản | Luật đặt khung; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành biểu cụ thể |
Ký hiệu (không phải số thật): một mỏ đá khai thác trong tháng Q m³, giá tính thuế đơn vị g đồng/m³, thuế suất r%. Thuế tài nguyên của tháng = Q × g × r%.
Vì thuế suất và giá đều nhân vào, mỗi lần tỉnh điều chỉnh bảng giá tính thuế, số thuế thay đổi theo ngay cả khi đơn vị không đổi giá bán. Theo dõi quyết định điều chỉnh bảng giá của tỉnh là việc thường xuyên của kế toán mỏ.
Giá tính thuế: không thấp hơn bảng giá của tỉnh
Nguyên tắc: giá tính thuế là giá bán thực tế chưa có GTGT; nếu giá bán thấp hơn giá trong bảng giá tính thuế tài nguyên do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thì lấy theo bảng giá của tỉnh.
Những điểm hay gặp:
- Bán tại mỏ và giao tận công trình: giá giao tận nơi đã gồm cước vận chuyển. Giá tính thuế tài nguyên xác định cho sản phẩm tài nguyên tại khâu khai thác theo hướng dẫn; không lấy nguyên giá giao tận nơi nếu có phần vận chuyển tách được, nhưng cũng không được tự trừ chi phí ngoài phạm vi cho phép.
- Bán cho đơn vị liên kết với giá thấp bất thường: giá sàn của tỉnh vẫn áp; ngoài ra có thể bị xác định lại theo quy định về giá giao dịch liên kết.
- Không bán mà dùng (đá khai thác để làm đường nội bộ, cát dùng cho công trình của chính đơn vị): vẫn tính thuế, giá theo bảng giá của tỉnh hoặc giá bán sản phẩm cùng loại.
Sản lượng tính thuế khi đá được chế biến rồi mới bán
Đá khai thác ở mỏ thường không bán nguyên khối mà được nghiền, sàng thành đá dăm các cỡ, đá mạt, bột đá. Khi đó có hai câu hỏi: sản lượng tính thuế là đá nguyên khai hay sản phẩm sau chế biến, và giá tính thuế là giá của cái nào.
Hướng dẫn thuế tài nguyên có cách xử lý cho trường hợp tài nguyên được đưa vào chế biến: hoặc quy đổi sản lượng sản phẩm bán ra về sản lượng tài nguyên theo định mức, hoặc xác định giá tính thuế của sản phẩm tài nguyên bằng cách tách phần chế biến theo quy định. Bảng giá của tỉnh cũng thường có dòng giá cho từng loại sản phẩm (đá hộc, đá dăm cỡ này cỡ kia). Nguyên tắc chung: chọn đúng dòng trong bảng giá khớp với sản phẩm và sản lượng mình khai.
Khi đơn vị không có hệ thống cân, đo sản lượng khai thác, hoặc số liệu không đáng tin, cơ quan thuế có thể ấn định sản lượng dựa trên hồ sơ cấp phép, công suất thiết kế, số liệu vận chuyển. Lắp trạm cân, camera tại mỏ theo yêu cầu quản lý chuyên ngành cũng chính là cách bảo vệ số liệu khai thuế của mình.
Đất san lấp, cát nạo vét: những trường hợp đặc biệt
- Đất khai thác và sử dụng tại chỗ trên chính diện tích đất được giao, được thuê (đào đất móng rồi dùng san nền trong cùng dự án): danh sách miễn thuế tài nguyên có trường hợp liên quan; kiểm tra điều kiện cụ thể trước khi không khai.
- Đất đào từ dự án này chở sang bán cho dự án khác: không còn là sử dụng tại chỗ, phải xét nghĩa vụ thuế tài nguyên và cả giấy phép khai thác.
- Cát thu hồi khi nạo vét luồng lạch, lòng hồ: tận thu rồi bán ra thì phần bán ra vẫn chịu thuế tài nguyên theo quy định về khai thác tận thu.
- Khai thác không phép: việc nộp thuế không hợp thức hoá hoạt động khai thác trái phép; ngoài thuế còn xử lý theo pháp luật khoáng sản.
Những sai sót hay gặp khi khai
- Khai sản lượng theo hoá đơn bán ra, bỏ qua lượng tồn ở bãi và lượng dùng nội bộ. Sản lượng khai thác trong kỳ khác sản lượng bán trong kỳ; tồn bãi cuối năm lệch với sổ là câu hỏi đầu tiên khi quyết toán.
- Dùng bảng giá cũ sau khi tỉnh đã ban hành bảng giá mới, hoặc chọn nhầm dòng giá của sản phẩm khác cỡ.
- Tính trên giá đã gồm thuế GTGT hoặc đã gồm cước vận chuyển không thuộc phạm vi giá tính thuế.
- Không khai phần tận thu (đất đá bóc tầng phủ, cát lẫn trong quá trình khai thác đá) rồi bán ra.
- Để phí bảo vệ môi trường và thuế tài nguyên trên cùng một bảng tính với cùng đơn vị đo mà không đối chiếu: hai khoản dùng chung số liệu sản lượng, lệch ở một nơi là lệch cả hai.
Mỗi tháng đối chiếu ba con số — sản lượng qua trạm cân, sản lượng xuất bán theo hoá đơn, tồn bãi — là cách đơn giản nhất để tờ khai thuế tài nguyên đứng vững khi bị kiểm tra.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Khoản | Căn cứ tính | Mức | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Thuế tài nguyên cát, sỏi, đá, đất san lấp | Sản lượng × giá tính thuế đơn vị | Thuế suất phần trăm theo biểu | Luật Thuế tài nguyên; nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về biểu thuế suất đang hiệu lực |
| Giá tính thuế đơn vị | Giá bán chưa GTGT, không thấp hơn bảng giá tỉnh | — | Bảng giá tính thuế tài nguyên của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; khung giá của Bộ Tài chính |
| Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản | Sản lượng khai thác | Mức phí theo khung, địa phương quyết định | Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh |
| Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản | Trữ lượng được cấp phép | Theo quyết định phê duyệt | Pháp luật về khoáng sản |
Cát, đá, đất san lấp không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường (khác với than); đừng nhầm phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản với thuế bảo vệ môi trường.
Tự kiểm tra ở đâu
- Tài khoản thuế điện tử của doanh nghiệp: tờ khai thuế tài nguyên theo tháng và quyết toán năm; đối chiếu sản lượng khai với sổ trạm cân và hoá đơn bán ra.
- Bảng giá tính thuế tài nguyên của tỉnh đang hiệu lực: dòng giá khớp đúng loại sản phẩm.
- Giấy phép khai thác: công suất, trữ lượng — căn cứ cơ quan thuế dùng khi ấn định.
- Thuế cơ sở hoặc Thuế tỉnh, thành phố nơi có mỏ: hỏi khi có sản phẩm chế biến chưa rõ dòng giá.
Với khoáng sản là than, thuế bảo vệ môi trường còn chồng thêm một lớp — xem bài than đá chịu thuế bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thường gặp
Cửa hàng vật liệu xây dựng mua cát về bán có phải nộp thuế tài nguyên không?
Không. Thuế tài nguyên do đơn vị khai thác nộp. Cửa hàng chỉ nộp thuế trên hoạt động bán hàng của mình và nên giữ hoá đơn chứng minh nguồn gốc cát hợp pháp.
Bán đá thấp hơn bảng giá của tỉnh vì thị trường đang xuống thì tính thuế theo giá nào?
Giá tính thuế không thấp hơn bảng giá của tỉnh, nên phải tính theo bảng giá dù giá bán thực tế thấp hơn. Nếu bảng giá không còn phù hợp thị trường, doanh nghiệp có thể kiến nghị địa phương điều chỉnh.
Đào đất làm móng rồi dùng san nền ngay trong dự án có phải nộp thuế tài nguyên không?
Có trường hợp miễn cho đất khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê. Kiểm tra điều kiện cụ thể; chở đất sang nơi khác hoặc bán thì không còn là sử dụng tại chỗ.
Sản lượng tính thuế theo khối nguyên khai hay khối đã nở rời?
Đơn vị đo phải thống nhất với bảng giá tính thuế và cách xác định sản lượng theo hướng dẫn. Đo sản lượng một kiểu, áp giá theo đơn vị kiểu khác là nguồn sai số lớn.
Tiền cấp quyền khai thác có trừ vào thuế tài nguyên được không?
Không. Đây là hai khoản độc lập theo hai hệ pháp luật khác nhau. Tiền cấp quyền khai thác là chi phí của doanh nghiệp khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
Mỏ tạm dừng khai thác vài tháng có phải khai thuế tài nguyên không?
Kỳ không phát sinh sản lượng thì số thuế bằng không, nhưng nghĩa vụ khai theo kỳ vẫn cần kiểm tra theo quy định quản lý thuế. Tạm dừng dài nên thông báo với cơ quan quản lý liên quan.