Cổ tức bằng tiền là thu nhập từ đầu tư vốn, tính thuế trên số tiền được chia và bị khấu trừ ngay khi công ty chi trả; tiền về tài khoản là số đã trừ thuế. Cổ tức bằng cổ phiếu (và cổ phiếu thưởng) theo nguyên tắc áp dụng lâu nay chưa phải nộp khi nhận; nghĩa vụ thuế phát sinh khi cá nhân bán số cổ phiếu đó — lúc đó có hai khoản: thuế thu nhập từ đầu tư vốn cho phần cổ tức và thuế 0,1% trên giá bán.
Luật Thuế TNCN đã được sửa đổi và có bộ hướng dẫn mới từ 1/7/2026 (Nghị định 253/2026/NĐ-CP, Thông tư 87/2026/TT-BTC). Thuế suất thu nhập từ đầu tư vốn và cách xử lý cổ tức bằng cổ phiếu cần được đối chiếu ở các văn bản này. Bài dùng ký hiệu a% cho thuế suất đầu tư vốn để minh hoạ, không nêu mức cụ thể.
Tỷ lệ cổ tức tính trên mệnh giá, không phải trên giá thị trường
Trước khi nói thuế, cần đọc đúng thông báo chia cổ tức. Khi công ty công bố “cổ tức 15%”, con số này thường tính trên mệnh giá cổ phiếu, không phải trên giá đang giao dịch. Giả sử mệnh giá 10.000 đồng, cổ tức 15% tức 1.500 đồng mỗi cổ phiếu — dù giá trên sàn có thể là 40.000 đồng.
Với cổ tức bằng cổ phiếu, “tỷ lệ 100:15” nghĩa là sở hữu 100 cổ phiếu được nhận thêm 15 cổ phiếu mới. Giá trị cổ tức để tính thuế theo nguyên tắc lâu nay cũng dựa trên mệnh giá của số cổ phiếu nhận thêm, không theo giá thị trường. Đây là điểm cần đối chiếu văn bản mới, vì nó quyết định căn cứ tính.
Cổ tức bằng tiền: khấu trừ ngay, không phải làm gì thêm
Giả sử nhà đầu tư có 2.000 cổ phiếu, công ty chia cổ tức tiền 1.500 đồng/cổ phiếu. Tổng cổ tức 3 triệu đồng.
- Thuế thu nhập từ đầu tư vốn: a% × 3 triệu đồng, do công ty (qua tổ chức lưu ký, công ty chứng khoán) khấu trừ.
- Tiền về tài khoản: 3 triệu × (1 − a%).
Cá nhân không phải tự kê khai khoản này. Việc nên làm là đối chiếu số thực nhận với số cổ phiếu sở hữu tại ngày chốt quyền, và giữ sao kê tài khoản chứng khoán ghi nhận khoản cổ tức. Nếu tiền về ít hơn số tính được, thường do sai số cổ phiếu tại ngày chốt (mua sau ngày giao dịch không hưởng quyền), không phải do thuế.
Cổ tức bằng cổ phiếu: thuế đi theo cổ phiếu tới lúc bán
Tiếp ví dụ: thay vì chia tiền, công ty chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 100:15. Nhà đầu tư có 2.000 cổ phiếu nhận thêm 300 cổ phiếu. Khi nhận, theo nguyên tắc lâu nay, chưa có khoản thuế nào bị trừ.
Hai năm sau, nhà đầu tư bán toàn bộ 2.300 cổ phiếu với giá 30.000 đồng. Khi bán, có hai lớp thuế:
| Khoản | Căn cứ | Tính (ví dụ) |
|---|---|---|
| Thuế chuyển nhượng chứng khoán | Giá bán của toàn bộ 2.300 cổ phiếu | 0,1% × 69 triệu = 69 nghìn đồng |
| Thuế thu nhập từ đầu tư vốn cho phần cổ tức bằng cổ phiếu | 300 cổ phiếu × mệnh giá 10.000 đồng = 3 triệu đồng | a% × 3 triệu đồng |
Nếu chỉ bán một phần, cách xác định số cổ phiếu cổ tức nằm trong phần đã bán phải theo hướng dẫn hiện hành. Đây là lý do nên theo dõi riêng số cổ phiếu nhận từ cổ tức, không để lẫn vào số mua trên sàn.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Nhóm | Căn cứ tính | Thời điểm nộp | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Cổ tức bằng tiền, cá nhân nhận | Số tiền cổ tức được chia | Khi công ty chi trả (khấu trừ) | Luật Thuế TNCN sửa đổi; Nghị định 253/2026/NĐ-CP; Thông tư 87/2026/TT-BTC |
| Cổ tức bằng cổ phiếu, cổ phiếu thưởng, cá nhân nhận | Giá trị cổ phiếu nhận thêm theo cách xác định trong văn bản | Theo nguyên tắc lâu nay: khi bán cổ phiếu đó | Như trên — kiểm tra có thay đổi thời điểm hay không |
| Bán cổ phiếu (mọi nguồn) | Giá bán từng lần | Khi khớp lệnh (khấu trừ) | 0,1% — Luật Thuế TNCN sửa đổi |
| Doanh nghiệp nhận cổ tức từ doanh nghiệp trong nước | Thu nhập từ góp vốn sau khi bên chia đã nộp thuế TNDN | Kê khai trong quyết toán TNDN | Luật 67/2025/QH15 phần thu nhập miễn thuế |
Nhìn từ góc thuế: nhận tiền hay nhận cổ phiếu khác nhau ở đâu
Cổ đông nhỏ thường không được chọn hình thức — đại hội đồng cổ đông quyết. Nhưng hiểu khác biệt giúp tính đúng dòng tiền và không bất ngờ khi bán.
- Thời điểm tiền thuế rời túi: cổ tức tiền bị trừ thuế ngay; cổ tức cổ phiếu theo nguyên tắc lâu nay dồn tới lúc bán. Người giữ cổ phiếu nhiều năm có một khoản thuế “treo” cần nhớ.
- Căn cứ tính: cổ tức tiền tính trên số tiền nhận; cổ tức cổ phiếu tính trên giá trị theo cách văn bản quy định (lâu nay là mệnh giá), không theo giá thị trường lúc nhận hay lúc bán. Khi giá thị trường cao hơn mệnh giá nhiều, khác biệt này đáng kể.
- Giá tham chiếu điều chỉnh: sau ngày giao dịch không hưởng quyền, giá cổ phiếu được điều chỉnh giảm tương ứng. Nhận thêm cổ phiếu không có nghĩa là tài sản tăng ngay bằng giá trị số cổ phiếu nhận thêm; đừng lấy giá trị đó để ước thuế.
- Thuế 0,1% khi bán: số cổ phiếu nhận thêm cũng chịu 0,1% trên giá bán như mọi cổ phiếu khác, độc lập với phần thuế cổ tức.
Với người dùng cổ tức tiền làm dòng thu nhập đều đặn, nên tính số thực nhận sau thuế khi lập kế hoạch chi tiêu, thay vì nhân số cổ phiếu với mức cổ tức công bố.
Những nhầm lẫn hay gặp
- “Cổ tức cổ phiếu là miễn thuế.” Không phải miễn, mà theo nguyên tắc lâu nay là hoãn tới khi bán. Người giữ cổ phiếu lâu dễ quên, rồi bất ngờ khi thấy khoản khấu trừ lớn hơn 0,1% lúc bán.
- “Quyền mua cổ phiếu phát hành thêm cũng là cổ tức.” Không. Quyền mua là quyền bỏ tiền mua thêm với giá ưu đãi, không phải cổ tức. Cách tính thuế khi chuyển nhượng quyền mua hoặc khi bán cổ phiếu mua theo quyền theo quy định riêng.
- “Lấy tỷ lệ cổ tức so với giá thị trường để tính thuế.” Căn cứ là số tiền thực chia hoặc giá trị theo cách văn bản quy định, không phải lợi suất tự tính.
- “Chuyển cổ phiếu sang công ty chứng khoán khác thì mất dấu cổ phiếu cổ tức.” Thông tin gốc vẫn nằm ở tổ chức lưu ký; nhưng nên xin xác nhận số dư theo nguồn trước khi chuyển để tránh khấu trừ sai.
Giữ hồ sơ thế nào cho gọn
Nhà đầu tư cá nhân không cần sổ sách phức tạp, chỉ cần một bảng theo dõi đơn giản cho từng mã:
- Ngày nhận và số cổ phiếu từ cổ tức, cổ phiếu thưởng, tách riêng với cổ phiếu mua trên sàn.
- Thông báo chia cổ tức của công ty (tỷ lệ, hình thức, ngày chốt).
- Sao kê tháng có ghi nhận cổ tức tiền và cổ phiếu về tài khoản.
- Chứng từ khấu trừ thuế công ty chứng khoán cấp theo năm.
Tự kiểm tra ở đâu: ứng dụng thuế trên điện thoại hoặc tài khoản thuế điện tử cá nhân (đăng nhập bằng số định danh cá nhân) hiển thị các khoản thu nhập và thuế đã được tổ chức khấu trừ, kê khai. Đối chiếu với bảng theo dõi ở trên; lệch thì hỏi công ty chứng khoán trước, rồi đến cơ quan thuế quản lý.
Câu hỏi thường gặp
Mua cổ phiếu sau ngày chốt quyền thì có nhận cổ tức và chịu thuế không?
Người mua sau ngày giao dịch không hưởng quyền không nhận cổ tức đợt đó và không có khoản thuế cổ tức. Người bán trước ngày chốt thì cũng không nhận. Kiểm tra ngày chốt trong thông báo của công ty.
Cổ phiếu thưởng từ nguồn thặng dư vốn có tính thuế như cổ tức không?
Theo nguyên tắc lâu nay, cổ phiếu thưởng được xử lý tương tự cổ tức bằng cổ phiếu: chưa nộp khi nhận, nộp khi chuyển nhượng. Đối chiếu văn bản hướng dẫn luật sửa đổi xem có thay đổi hay không.
Doanh nghiệp nhận cổ tức có phải nộp thuế TNDN không?
Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp trong nước sau khi bên chia đã nộp thuế TNDN thuộc diện miễn thuế TNDN theo luật, với điều kiện cụ thể. Doanh nghiệp vẫn kê khai khoản này trên tờ khai quyết toán.
Tặng cổ phiếu nhận từ cổ tức cho con có bị tính thuế cổ tức không?
Tặng cho chứng khoán là giao dịch có quy định riêng về thuế quà tặng và các trường hợp miễn giữa người thân. Phần thuế cổ tức chưa nộp đi theo cổ phiếu được xử lý thế nào cần đối chiếu hướng dẫn hiện hành trước khi làm thủ tục.
Người nước ngoài không cư trú nhận cổ tức có khác không?
Cá nhân không cư trú có thể áp thuế suất và cách tính khác, và có thể chịu ảnh hưởng của hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Xác định tình trạng cư trú trước, rồi tra mức theo văn bản hiện hành.
Cổ tức đã khấu trừ thuế có được hoàn khi quyết toán nếu thu nhập thấp không?
Không. Thuế thu nhập từ đầu tư vốn tính theo từng lần phát sinh, không cộng vào quyết toán tiền lương và không được trừ giảm trừ gia cảnh, nên không phát sinh hoàn vì thu nhập thấp.