Thuế tài nguyên đánh vào sản lượng tài nguyên khai thác được đem sử dụng hoặc bán, không phân biệt người khai thác có giấy phép mỏ hay không. Đất, đá, cát thu được khi đào móng, nạo vét là tài nguyên thu được trong quá trình thi công. Luật Thuế tài nguyên lâu nay có trường hợp miễn thuế với đất khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê. Vì vậy: đất đào lên dùng lại ngay trong công trình, trên chính khu đất đó thường thuộc diện miễn; đất, cát chở đi bán hoặc dùng cho công trình khác thì phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế tài nguyên trên phần đó.
Việc được phép bán hay vận chuyển đất, cát thu hồi còn chịu quản lý của pháp luật về khoáng sản, môi trường và xây dựng — bài này chỉ nói phần thuế. Thuế suất của từng loại tài nguyên theo biểu thuế hiện hành, giá tính thuế đơn vị theo bảng giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành; bài này ký hiệu thuế suất là k% và giá tính thuế đơn vị là G đồng/m³.
Ba đường đi của đất đá sau khi đào
| Đường đi | Thuế tài nguyên thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|
| Dùng lại tại chỗ: đắp nền, lấp móng trên chính khu đất được giao, được thuê | Thuộc trường hợp miễn nếu đủ điều kiện | Cần biên bản, nhật ký thi công thể hiện khối lượng dùng lại |
| Chở sang công trình khác của chính nhà thầu | Phát sinh nghĩa vụ | Không còn là “tại chỗ” |
| Bán cho đơn vị san lấp, bãi vật liệu | Phát sinh nghĩa vụ | Đồng thời là doanh thu bán hàng, lập hoá đơn |
| Đổ thải theo quy định tại bãi được phép | Không phải sản phẩm đem sử dụng, bán | Có chứng từ đổ thải; chi phí vận chuyển là chi phí công trình |
Cát nạo vét luồng, lạch, kênh mương đi theo cùng logic, nhưng thường có thêm yêu cầu riêng của cơ quan quản lý đường thuỷ, thuỷ lợi về khối lượng được phép tận thu. Khối lượng khai thuế nên khớp với khối lượng được phép.
Hai cách hiểu trên cùng một công trình: ví dụ số
Giả sử nhà thầu đào móng tầng hầm được 20.000 m³ đất. Trong đó 5.000 m³ dùng đắp lại nền ngay tại công trình, 3.000 m³ chở sang công trình khác của chính nhà thầu, 12.000 m³ bán cho một đơn vị san lấp với giá 40.000 đồng/m³.
| Khối lượng | Cách hiểu 1: không phải mỏ nên không nộp | Cách hiểu 2: theo đường đi của đất |
|---|---|---|
| 5.000 m³ dùng tại chỗ | 0 | Miễn nếu đủ điều kiện |
| 3.000 m³ sang công trình khác | 0 | 3.000 × G × k% |
| 12.000 m³ bán ra | 0 | 12.000 × G × k% |
| Doanh thu bán đất | Hay bị ghi là “thu nhập khác” rồi bỏ quên | 480 triệu đồng, lập hoá đơn, tính GTGT và TNDN |
Nếu G trong bảng giá của tỉnh thấp hơn giá bán thực tế, cơ quan thuế có thể căn cứ vào giá bán để tính (nguyên tắc giá tính thuế tài nguyên không thấp hơn giá trong bảng giá). Cách hiểu 1 không chỉ thiếu thuế tài nguyên mà thường kéo theo thiếu doanh thu 480 triệu đồng — phần dễ bị phát hiện hơn, vì bên mua đất đã ghi chi phí.
Để xem phần doanh thu bán đất ảnh hưởng thế nào tới thuế TNDN năm đó, có thể thử ở máy tính thuế TNDN tại thuesuat.com/may-tinh/thue-tndn; phần GTGT của hoá đơn bán đất thử ở thuesuat.com/may-tinh/thue-gtgt.
Điều kiện “sử dụng tại chỗ” cần chứng minh
- Khu đất được giao, được thuê của dự án: quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất, hoặc chủ đầu tư có quyền sử dụng đất hợp pháp và nhà thầu thi công trên đó.
- Khối lượng dùng lại: thể hiện trong thiết kế, dự toán (khối lượng đắp), nhật ký thi công, biên bản nghiệm thu khối lượng đắp.
- Khối lượng chở đi: phiếu cân, phiếu xuất, hợp đồng vận chuyển, biên bản nhận tại bãi.
Không có số liệu tách thì toàn bộ khối lượng đào có thể bị hỏi. Cân đối đơn giản nhất là: khối lượng đào = dùng tại chỗ + chở sang nơi khác + bán + đổ thải. Mỗi vế phải có chứng từ.
Ai là người kê khai: chủ đầu tư hay nhà thầu
Người nộp thuế tài nguyên là người khai thác. Trong xây dựng, việc ai khai phụ thuộc hợp đồng:
- Hợp đồng thi công giao đất đào cho nhà thầu tự xử lý (nhà thầu được bán, được dùng): nhà thầu là người được hưởng sản phẩm, thường là người kê khai phần đem bán, đem đi.
- Hợp đồng quy định đất đào thuộc chủ đầu tư, nhà thầu chỉ vận chuyển: chủ đầu tư quyết định số đất đó và là người có nghĩa vụ khi đem bán.
- Hợp đồng im lặng: nên bổ sung phụ lục trước khi đất được chở đi, vì hai bên thường mặc định bên kia lo.
Nơi kê khai thuế tài nguyên thường là cơ quan thuế quản lý địa bàn có hoạt động khai thác, không phải nơi đặt trụ sở của nhà thầu. Nhà thầu thi công ở tỉnh khác cần lưu ý điểm này.
Phí bảo vệ môi trường và các khoản đi kèm
Ngoài thuế tài nguyên, khai thác khoáng sản còn có phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo quy định về phí, lệ phí và mức của địa phương. Đất, cát tận thu đem bán có thể thuộc diện phải nộp phí này. Đây là khoản riêng, khai riêng, không nằm trong thuế tài nguyên.
Chi phí đào, xúc, vận chuyển là chi phí công trình của nhà thầu. Tiền bán đất là doanh thu khác hoặc doanh thu bán hàng tuỳ tần suất; thuế tài nguyên, phí nộp trên phần đất bán là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu có chứng từ.
Nạo vét kênh mương, luồng lạch: cát tận thu
Dự án nạo vét thường được giao cho nhà thầu với mục tiêu thông luồng, chống bồi lắng; cát, bùn thu lên là sản phẩm phụ. Nhưng với cát có giá trị thương mại, khối lượng tận thu có khi lớn hơn cả phần việc chính. Ba điểm cần rõ trước khi thi công:
- Khối lượng được phép tận thu theo văn bản của cơ quan có thẩm quyền, tách với khối lượng nạo vét phải đổ bỏ.
- Nơi tập kết và cách cân đo: phiếu cân tại bãi, biên bản xác nhận khối lượng theo từng đợt.
- Người được hưởng sản phẩm: nhà thầu được bán cát để bù chi phí, hay cát thuộc về chủ đầu tư, địa phương.
Cát tận thu đem bán là tài nguyên đem bán, phát sinh thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường tương ứng, cộng với thuế GTGT, TNDN trên doanh thu bán cát. Khối lượng khai thuế thấp hơn nhiều so với khối lượng đã bán theo hoá đơn là chỗ bị phát hiện đầu tiên khi đối chiếu.
Những sai lầm hay gặp
- Coi tiền bán đất là “bù trừ chi phí vận chuyển”, giảm thẳng vào chi phí công trình mà không ghi doanh thu, không lập hoá đơn.
- Để đơn vị mua đất tự chở và trả tiền mặt, không có hợp đồng, không có phiếu cân. Khi bên mua ghi chi phí và cần hoá đơn, nhà thầu mới lúng túng.
- Tính khối lượng theo số chuyến xe ước lượng thay vì phiếu cân hoặc đo đạc. Số liệu ước lượng khó bảo vệ khi bị hỏi.
- Khai thuế tài nguyên ở nơi đặt trụ sở thay vì nơi có hoạt động khai thác.
Tự kiểm tra ở đâu
- Bảng giá tính thuế tài nguyên do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thi công ban hành: tra giá G của đất san lấp, cát.
- Luật Thuế tài nguyên và biểu thuế hiện hành: thuế suất k%, trường hợp miễn với đất sử dụng tại chỗ.
- Tài khoản thuế điện tử: tờ khai thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đã nộp theo địa bàn.
- Cơ quan thuế quản lý địa bàn thi công và cơ quan quản lý khoáng sản, xây dựng: hỏi về thủ tục khi muốn bán đất đá, cát tận thu.
Câu hỏi thường gặp
Đất đào móng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình có phải nộp thuế tài nguyên không?
Dùng lại tại chỗ trên thửa đất của mình thì thuộc trường hợp đất sử dụng tại chỗ. Nếu chở đi bán số lượng lớn thì về nguyên tắc cũng là tài nguyên đem bán; nên hỏi cơ quan thuế địa phương.
Đất đổ thải có phải nộp thuế tài nguyên không?
Đất đổ thải tại bãi được phép, không đem sử dụng hay bán, thì không phải sản phẩm tài nguyên để tính thuế. Giữ chứng từ đổ thải để chứng minh khối lượng.
Bán đất đào móng có phải lập hoá đơn không?
Có. Đó là giao dịch bán hàng hoá, nhà thầu lập hoá đơn và tính thuế GTGT theo mức của mặt hàng. Doanh thu này cũng đưa vào tính thuế TNDN.
Giá tính thuế lấy theo giá bán hay bảng giá của tỉnh?
Nguyên tắc lâu nay là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, nhưng không thấp hơn giá trong bảng giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành. Tra bảng giá của năm có phát sinh.
Cát lẫn trong đất đào móng có tính riêng không?
Nếu tách được và đem bán riêng như cát thì tính theo loại tài nguyên cát. Nếu không tách, đất lẫn cát bán chung thì xem hướng dẫn về xác định loại tài nguyên và hỏi cơ quan thuế.
Đất đào móng dùng để đắp đường tạm phục vụ thi công ngoài ranh dự án có tính là tại chỗ không?
Đường tạm nằm ngoài diện tích đất được giao, được thuê của dự án thì khó coi là sử dụng tại chỗ. Nên hỏi cơ quan thuế và ghi rõ vị trí, khối lượng trong nhật ký thi công.
Nhà thầu phụ đào đất thì ai khai?
Phụ thuộc hợp đồng giữa nhà thầu chính và nhà thầu phụ về quyền đối với đất đào. Bên được hưởng số đất đem bán hoặc đem đi là bên nên kê khai, và nên ghi rõ trong hợp đồng.