Hoa hồng khách sạn, nhà hàng trả cho nền tảng đặt phòng, đặt bàn ở nước ngoài là khoản trả cho dịch vụ của tổ chức nước ngoài, thuộc phạm vi thuế nhà thầu gồm phần GTGT và phần TNDN. Có hai trường hợp. Nếu nền tảng đã đăng ký thuế và tự khai nộp tại Việt Nam qua cổng dành cho nhà cung cấp nước ngoài, khách sạn thường không khấu trừ nữa. Nếu nền tảng chưa đăng ký, khách sạn là bên trả tiền phải khấu trừ, kê khai, nộp thay thuế nhà thầu trên khoản hoa hồng.
Trong cả hai trường hợp, doanh thu của khách sạn là giá phòng đầy đủ khách trả, không phải số tiền nền tảng chuyển về sau khi trừ hoa hồng. Tỷ lệ thuế nhà thầu của dịch vụ trung gian tra ở hướng dẫn hiện hành (lâu nay trong Thông tư 80/2021/TT-BTC và văn bản thay thế); bài này ký hiệu tỷ lệ GTGT là v% và TNDN là d%.
Hai mô hình thu tiền và dòng tiền thực tế
| Mô hình | Khách trả tiền cho ai | Hoa hồng đi thế nào |
|---|---|---|
| Khách trả tại khách sạn | Khách sạn | Nền tảng gửi bảng kê hằng tháng, khách sạn chuyển hoa hồng ra nước ngoài |
| Nền tảng thu hộ | Nền tảng | Nền tảng giữ lại hoa hồng, chuyển phần còn lại cho khách sạn |
Mô hình thứ hai hay gây nhầm: khách sạn không chủ động “trả” hoa hồng, nên nghĩ không có gì để khấu trừ. Thực tế khoản bù trừ vẫn là khách sạn thanh toán hoa hồng cho nền tảng, chỉ là trừ thẳng vào tiền phòng. Nghĩa vụ không đổi theo cách chuyển tiền.
So hai trường hợp bằng ví dụ số
Giả sử trong tháng, một khách sạn có tổng tiền phòng khách đặt qua một nền tảng nước ngoài là 1 tỷ đồng (giá chưa GTGT), hoa hồng 15% là 150 triệu đồng. Hợp đồng quy định hoa hồng là số nền tảng được nhận, chưa trừ thuế Việt Nam.
| Chỉ tiêu | Trường hợp 1: nền tảng chưa đăng ký | Trường hợp 2: nền tảng đã đăng ký, tự nộp |
|---|---|---|
| Doanh thu phòng khách sạn khai | 1 tỷ | 1 tỷ |
| Thuế GTGT đầu ra tiền phòng | Theo mức của dịch vụ lưu trú | Theo mức của dịch vụ lưu trú |
| Thuế nhà thầu phần GTGT | Khách sạn nộp thay trên doanh thu hoa hồng quy đổi | Không khấu trừ |
| Thuế nhà thầu phần TNDN | Khách sạn nộp thay, tỷ lệ d% | Không khấu trừ |
| GTGT nộp thay có được khấu trừ đầu vào | Có, khi có chứng từ nộp tiền | Theo chứng từ bên nền tảng phát hành |
Vì hoa hồng 150 triệu là số nền tảng nhận ròng, doanh thu tính thuế nhà thầu phải quy đổi ngược: doanh thu tính thuế TNDN = 150 triệu ÷ (1 − d%), sau đó mới tính phần GTGT trên doanh thu đã gồm TNDN theo công thức của hướng dẫn hiện hành. Thuế khách sạn nộp thay trở thành chi phí thật; khi đàm phán hợp đồng nên tính sẵn phần này.
Ở trường hợp 1, phần GTGT nộp thay được khấu trừ như thuế đầu vào nên gần như không làm tăng thuế GTGT phải nộp của khách sạn khai theo phương pháp khấu trừ. Phần TNDN nộp thay là khoản làm tăng chi phí hoa hồng thực tế.
Ghi doanh thu ròng: lỗi đắt nhất
Lỗi hay gặp nhất không nằm ở thuế nhà thầu mà ở doanh thu: khách sạn nhận về 850 triệu từ nền tảng rồi ghi doanh thu 850 triệu. Hệ quả dây chuyền:
- Thiếu 150 triệu doanh thu chịu thuế GTGT đầu ra.
- Thiếu 150 triệu doanh thu khi tính thuế TNDN — đồng thời mất luôn chi phí hoa hồng tương ứng, nên thu nhập có thể không đổi, nhưng doanh thu trên tờ khai lệch với dữ liệu nền tảng.
- Với doanh nghiệp gần mốc 3 tỷ hoặc 50 tỷ đồng, doanh thu ghi thiếu có thể làm xếp sai nhóm thuế suất TNDN 15%, 17%, 20%.
- Với hộ kinh doanh lưu trú tính theo tỷ lệ, ghi doanh thu ròng là nộp thiếu trực tiếp, vì hộ không được trừ chi phí.
Dữ liệu doanh thu của khách sạn trên các nền tảng lớn là thứ cơ quan thuế có thể có được. Ghi doanh thu gộp, hoa hồng ghi chi phí, là cách duy nhất để hai bộ số khớp nhau.
Hồ sơ để hoa hồng được tính vào chi phí
- Hợp đồng hoặc điều khoản dịch vụ với nền tảng (bản điện tử chấp nhận trực tuyến, lưu lại phiên bản tại thời điểm ký).
- Bảng kê, hoá đơn thương mại hằng tháng của nền tảng, ghi số đặt phòng và hoa hồng.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng, hoặc bảng đối chiếu bù trừ với mô hình nền tảng thu hộ.
- Chứng từ thuế: tờ khai và chứng từ nộp thuế nhà thầu (trường hợp 1), hoặc bản tra cứu cho thấy nền tảng đã đăng ký thuế tại Việt Nam (trường hợp 2).
Nhà hàng trả phí cho nền tảng đặt bàn, giao đồ ăn nước ngoài cũng làm tương tự. Nếu nền tảng có pháp nhân tại Việt Nam và xuất hoá đơn trong nước, thì đó là giao dịch trong nước, không phải thuế nhà thầu.
Điều khoản thuế nên có khi ký với nền tảng
Điều khoản dịch vụ của nền tảng thường là mẫu soạn sẵn, khó đàm phán. Nhưng khách sạn vẫn nên đọc và lưu lại những điểm liên quan tới thuế, vì chúng quyết định ai chịu phần thuế nhà thầu:
- Hoa hồng là giá gồm hay chưa gồm thuế Việt Nam: nếu chưa gồm, khách sạn phải quy đổi ngược và chịu phần chênh.
- Nền tảng cam kết tự khai nộp thuế tại Việt Nam: nếu có, lưu cùng bản tra cứu mã số thuế của nền tảng.
- Chứng từ nền tảng phát hành: bảng kê, hoá đơn thương mại, có ghi rõ số tiền thuế Việt Nam đã nộp (nếu nền tảng tự nộp) hay không.
- Pháp nhân ký hợp đồng và pháp nhân nhận tiền: nếu khác nhau, xem pháp nhân nào đã đăng ký.
Khách sạn có nhiều nền tảng cùng lúc nên lập một bảng: tên nền tảng, pháp nhân, tình trạng đăng ký thuế tại Việt Nam, mô hình thu tiền, tỷ lệ hoa hồng. Cập nhật mỗi năm một lần hoặc khi nền tảng đổi điều khoản.
Khách sạn nhỏ, hộ kinh doanh lưu trú
Hộ kinh doanh homestay, nhà nghỉ cũng trả hoa hồng cho nền tảng nước ngoài. Về nguyên tắc, hộ là bên trả tiền nên cũng thuộc diện khấu trừ nếu nền tảng chưa đăng ký; thực tế đa số nền tảng lớn đã đăng ký tự nộp. Điều quan trọng hơn với hộ là doanh thu tính thuế theo tỷ lệ phải là tiền phòng khách trả, không trừ hoa hồng.
Một số nền tảng còn khấu trừ, nộp thay thuế của hộ theo quy định về thương mại điện tử. Hộ cần đối chiếu số nền tảng đã nộp thay với số tự khai để không khai trùng, cũng không bỏ sót phần doanh thu nhận trực tiếp.
Tự kiểm tra ở đâu
- Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài: tra nền tảng có trong danh sách đã đăng ký, đúng pháp nhân ký hợp đồng với mình.
- Tài khoản đối tác trên nền tảng: tải báo cáo doanh thu gộp, hoa hồng theo tháng để đối chiếu với tờ khai.
- Tài khoản thuế điện tử: tờ khai thuế nhà thầu, tờ khai GTGT, chứng từ nộp tiền.
- Văn bản đang hiệu lực: hướng dẫn thuế nhà thầu và quy định về nhà cung cấp nước ngoài để tra tỷ lệ v%, d%.
Để thử phần thuế GTGT đầu ra của tiền phòng và phần được khấu trừ, có thể dùng máy tính thuế GTGT tại thuesuat.com/may-tinh/thue-gtgt.
Câu hỏi thường gặp
Nền tảng nước ngoài có văn phòng đại diện ở Việt Nam thì có phải là đã đăng ký thuế không?
Không nhất thiết. Văn phòng đại diện không kinh doanh; việc nền tảng tự khai nộp thuế cho doanh thu từ Việt Nam phải tra theo danh sách nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký.
Hoa hồng tính trên giá đã gồm thuế GTGT tiền phòng thì doanh thu phòng ghi thế nào?
Doanh thu phòng vẫn ghi theo giá chưa GTGT, thuế GTGT đầu ra ghi riêng. Cách nền tảng tính hoa hồng là thoả thuận thương mại, không làm đổi doanh thu tính thuế của khách sạn.
Khách huỷ phòng, nền tảng hoàn tiền thì hoa hồng xử lý ra sao?
Phòng bị huỷ và hoàn tiền thì không có doanh thu phòng; hoa hồng tương ứng thường cũng được hoàn hoặc bù trừ theo bảng kê. Tiền phạt huỷ phòng mà khách sạn giữ lại là doanh thu khác, cần xem xử lý thuế theo bản chất.
Khách sạn nộp thay thuế nhà thầu theo tháng hay theo từng lần thanh toán?
Thuế nhà thầu khai theo từng lần phát sinh thanh toán hoặc theo tháng tuỳ trường hợp theo quy định hiện hành. Khách sạn trả hoa hồng hằng tháng thường khai theo kỳ thanh toán.
Nền tảng yêu cầu khách sạn không khấu trừ vì đã nộp ở nước họ thì sao?
Thuế nộp ở nước khác không tự động thay nghĩa vụ ở Việt Nam. Chỉ khi nền tảng đăng ký, tự nộp tại Việt Nam, hoặc được áp hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo thủ tục, thì khách sạn mới có căn cứ không khấu trừ phần tương ứng.
Nhà hàng chỉ trả phí quảng cáo cố định hằng tháng cho nền tảng, không có hoa hồng theo lượt thì sao?
Phí quảng cáo, phí hiển thị cũng là khoản trả cho dịch vụ của tổ chức nước ngoài. Cách xử lý giống hoa hồng: kiểm tra nền tảng đã đăng ký tự nộp thuế tại Việt Nam chưa, nếu chưa thì khấu trừ theo nhóm dịch vụ tương ứng.
Hoa hồng trả cho công ty lữ hành nước ngoài gửi khách đoàn có giống nền tảng không?
Về nguyên tắc cũng là khoản trả cho dịch vụ của tổ chức nước ngoài, thuộc phạm vi thuế nhà thầu. Tỷ lệ áp theo nhóm dịch vụ tương ứng và cần xem công ty đó có đăng ký thuế tại Việt Nam không.