Với hợp đồng mà giá đã gồm thuế nhà thầu (thường gọi là giá gross), bên Việt Nam tính thuế trên giá hợp đồng, khấu trừ và chỉ chuyển cho đối tác phần còn lại. Với hợp đồng mà giá chưa gồm thuế — đối tác nhận đủ số tiền ghi trên hợp đồng (giá net) — bên Việt Nam phải quy đổi ngược để ra doanh thu tính thuế lớn hơn giá hợp đồng, rồi tự chịu phần thuế. Cùng một con số, chi phí thật của bên Việt Nam khác nhau đáng kể.
Công thức quy đổi đi theo thứ tự: tính doanh thu tính thuế TNDN trước, rồi từ đó tính doanh thu tính thuế GTGT. Bài dùng tỷ lệ ký hiệu và một ví dụ với tỷ lệ giả định; tỷ lệ thật theo từng loại dịch vụ tra ở văn bản hướng dẫn thuế nhà thầu hiện hành.
Công thức với hợp đồng giá chưa gồm thuế
Gọi số tiền đối tác được nhận là N, tỷ lệ TNDN là t, tỷ lệ GTGT là g (theo loại dịch vụ). Thứ tự quy đổi thường dùng:
- Doanh thu tính thuế TNDN = N ÷ (1 − t). Thuế TNDN = doanh thu này × t.
- Doanh thu tính thuế GTGT = doanh thu tính thuế TNDN ÷ (1 − g). Thuế GTGT = doanh thu này × g.
- Tổng chi phí của bên Việt Nam = doanh thu tính thuế GTGT = N + thuế TNDN + thuế GTGT.
Cách diễn đạt công thức trong văn bản có thể khác nhau về câu chữ, và có trường hợp đặc thù (hợp đồng có phần không chịu GTGT, có ưu đãi theo hiệp định). Đối chiếu văn bản hướng dẫn thuế nhà thầu hiện hành trước khi dùng cho số liệu thật.
Ví dụ với tỷ lệ giả định
Giả sử tỷ lệ TNDN là 6% và tỷ lệ GTGT là 4% — đây là tỷ lệ giả định để minh hoạ, không phải mức thật của bất kỳ loại dịch vụ nào.
| Khoản | Hợp đồng giá chưa gồm thuế: đối tác nhận đủ 100 triệu | Hợp đồng giá đã gồm thuế: 100 triệu |
|---|---|---|
| Doanh thu tính thuế TNDN | 100 ÷ 0,94 ≈ 106,38 triệu | 100 − thuế GTGT = 96 triệu |
| Thuế TNDN | ≈ 6,38 triệu | 96 × 6% = 5,76 triệu |
| Doanh thu tính thuế GTGT | 106,38 ÷ 0,96 ≈ 110,82 triệu | 100 triệu |
| Thuế GTGT | ≈ 4,43 triệu | 100 × 4% = 4 triệu |
| Đối tác thực nhận | 100 triệu | ≈ 90,24 triệu |
| Bên Việt Nam chi tổng cộng | ≈ 110,82 triệu | 100 triệu |
Chênh lệch gần 11 triệu đồng trên một hợp đồng 100 triệu đồng chỉ vì một chữ “net” hay “gross”. Với tỷ lệ thật cao hơn (ví dụ bản quyền, dịch vụ tư vấn), chênh lệch còn lớn hơn.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Loại hợp đồng | Căn cứ tính TNDN | Căn cứ tính GTGT | Nơi tra |
|---|---|---|---|
| Giá đã gồm thuế nhà thầu | Giá hợp đồng trừ thuế GTGT | Giá hợp đồng | Văn bản hướng dẫn thuế nhà thầu hiện hành; tỷ lệ theo loại dịch vụ |
| Giá chưa gồm thuế (bên Việt Nam chịu) | N ÷ (1 − t) | Doanh thu tính TNDN ÷ (1 − g) | Như trên |
| Hợp đồng có phần không chịu GTGT (bản quyền, lãi vay…) | Theo tỷ lệ TNDN riêng | Không tính cho phần không chịu thuế | Như trên; Luật 48/2024/QH15 |
| Hợp đồng bằng ngoại tệ | Quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá quy định | Như bên trái | Quy định về tỷ giá trong văn bản quản lý thuế hiện hành |
Hợp đồng im lặng về thuế: rủi ro lớn nhất
Nhiều hợp đồng mẫu của đối tác nước ngoài không nói gì về thuế Việt Nam, hoặc chỉ ghi chung chung “mỗi bên tự chịu thuế của mình”. Khi đến lúc thanh toán:
- Đối tác xuất hoá đơn thương mại đúng giá hợp đồng và yêu cầu nhận đủ.
- Bên Việt Nam khấu trừ thuế thì đối tác cho là trả thiếu; không khấu trừ thì bên Việt Nam vẫn phải nộp và tự chịu.
- Tranh luận kéo dài làm chậm thanh toán, trong khi nghĩa vụ khai nộp của bên Việt Nam vẫn chạy theo từng lần thanh toán.
Điều khoản nên có: (1) ghi rõ giá là đã gồm hay chưa gồm thuế nhà thầu tại Việt Nam; (2) bên Việt Nam được khấu trừ thuế theo luật Việt Nam trước khi thanh toán; (3) bên Việt Nam cung cấp chứng từ nộp thuế cho đối tác để họ dùng khi quyết toán ở nước mình; (4) nghĩa vụ phối hợp làm thủ tục miễn, giảm theo hiệp định nếu có, gồm giấy chứng nhận cư trú.
Những bẫy khi tính và khai
- Quy đổi một lần cho cả hợp đồng trong khi thanh toán nhiều đợt: thuế phát sinh theo từng lần thanh toán, mỗi lần tính trên số tiền của lần đó.
- Dùng tỷ lệ của loại dịch vụ khác: hợp đồng “dịch vụ kỹ thuật” có phần bản quyền phần mềm, phần đào tạo, phần phần cứng — tách được thì tách, mỗi phần một tỷ lệ.
- Bỏ qua phí ngân hàng: phí chuyển tiền do bên nào chịu cũng cần thống nhất vì ảnh hưởng tới số đối tác thực nhận trong hợp đồng net.
- Quên hạch toán phần thuế tự chịu: với hợp đồng net, phần thuế bên Việt Nam chịu là một phần chi phí của hợp đồng; việc tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN phụ thuộc điều khoản hợp đồng và quy định về chi phí được trừ, cần đối chiếu.
Chọn giá gồm hay chưa gồm thuế khi đàm phán
Không có lựa chọn nào luôn đúng; mỗi cách phân bổ rủi ro khác nhau:
- Giá đã gồm thuế rõ ràng về chi phí cho bên Việt Nam: chi đúng số trên hợp đồng. Đối tác chịu thuế và thường tính ngược vào báo giá, nên giá chào ban đầu cao hơn.
- Giá chưa gồm thuế dễ được đối tác chấp nhận, đặc biệt với nhà cung cấp lớn có điều khoản chuẩn. Bên Việt Nam phải cộng phần thuế vào ngân sách, và chịu thêm rủi ro nếu tỷ lệ thay đổi trong thời gian hợp đồng.
- Có hiệp định thuế: với giá chưa gồm thuế, bên Việt Nam có động lực làm thủ tục theo hiệp định vì phần TNDN tiết kiệm được thuộc về mình; với giá đã gồm thuế, đối tác có động lực cung cấp giấy tờ cư trú.
Khi so sánh báo giá của nhà cung cấp nước ngoài với nhà cung cấp trong nước, luôn quy về tổng chi phí thật sau thuế nhà thầu. So con số trên báo giá với nhau là so hai thứ khác bản chất.
Ghi nhận trên sổ sách của bên Việt Nam
Với hợp đồng giá chưa gồm thuế, tổng chi phí của dịch vụ là doanh thu tính thuế GTGT sau quy đổi. Trong ví dụ giả định ở trên, đó là khoảng 110,82 triệu đồng, gồm 100 triệu trả đối tác, khoảng 6,38 triệu thuế TNDN nộp thay và khoảng 4,43 triệu thuế GTGT nộp thay.
Phần GTGT nộp thay, nếu đủ điều kiện, được khấu trừ như thuế đầu vào. Phần TNDN nộp thay là một phần chi phí của dịch vụ. Kế toán nên hạch toán theo từng hợp đồng để khi quyết toán có thể giải thích vì sao chi phí dịch vụ lớn hơn số tiền chuyển đi — chênh lệch không rõ nguồn gốc là thứ bị hỏi đầu tiên khi kiểm tra.
Tự kiểm tra ở đâu
- Sao kê ngân hàng: lọc mọi khoản chuyển ra nước ngoài trong năm, đối chiếu từng khoản với tờ khai thuế nhà thầu đã nộp.
- Tài khoản thuế điện tử: xem tờ khai, chứng từ nộp thuế nhà thầu theo từng hợp đồng.
- Hồ sơ hợp đồng: đánh dấu hợp đồng nào gross, hợp đồng nào net, hợp đồng nào im lặng — nhóm cuối là nhóm cần đàm phán bổ sung trước lần thanh toán kế tiếp.
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng ghi “giá đã bao gồm mọi loại thuế” có đủ để hiểu là giá gross không?
Thường được hiểu như vậy, nhưng nên ghi rõ đích danh thuế nhà thầu tại Việt Nam và quyền khấu trừ của bên Việt Nam. Câu chữ chung chung dễ bị đối tác hiểu là thuế ở nước họ.
Đối tác chấp nhận giá gross nhưng yêu cầu hoá đơn đúng giá hợp đồng thì sao?
Hoá đơn thương mại của đối tác ghi giá hợp đồng là bình thường. Bên Việt Nam khấu trừ thuế và chuyển phần còn lại, kèm chứng từ nộp thuế để đối tác đối chiếu. Hai bên nên thống nhất cách thể hiện trong biên bản thanh toán.
Có thể đổi hợp đồng net sang gross sau khi đã ký không?
Được nếu hai bên thoả thuận và ký phụ lục. Phụ lục chỉ nên áp cho các lần thanh toán từ sau ngày ký; các lần đã thanh toán trước đó giữ cách tính theo hợp đồng lúc thanh toán.
Tỷ giá quy đổi lấy ngày nào?
Theo quy định về tỷ giá khi xác định doanh thu tính thuế trong văn bản quản lý thuế hiện hành, thường gắn với thời điểm phát sinh doanh thu hoặc thanh toán. Thống nhất một quy tắc và áp đều cho mọi lần.
Bên Việt Nam chịu thuế thay có phải xin đối tác ký xác nhận gì không?
Không bắt buộc về thuế, nhưng nên có văn bản hai bên xác nhận hợp đồng là giá chưa gồm thuế để làm căn cứ quy đổi và hạch toán. Khi bị kiểm tra, văn bản này giải thích vì sao doanh thu tính thuế lớn hơn số tiền chuyển đi.
Tỷ lệ theo hiệp định thấp hơn thì dùng công thức nào?
Công thức giữ nguyên, chỉ thay tỷ lệ TNDN bằng mức được miễn, giảm theo hiệp định khi đã làm đủ thủ tục. Phần GTGT không bị ảnh hưởng bởi hiệp định.