Hàng hoá do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, uỷ thác cho cơ sở khác để xuất khẩu thuộc diện không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi lô hàng đó bị trả lại và tái nhập, nguyên tắc lâu nay là: nếu hàng tiếp tục được tái xuất hoặc tái chế thì chưa phát sinh thuế tiêu thụ đặc biệt; còn nếu hàng được đem bán trong nước, nghĩa vụ thuế tiêu thụ đặc biệt phát sinh ở khâu bán đó như với hàng sản xuất để tiêu thụ nội địa.
Nói cách khác, ưu đãi “không chịu thuế” đi theo việc hàng thật sự ra khỏi Việt Nam và được tiêu dùng ở nước ngoài. Hàng quay về và được tiêu dùng trong nước thì phải chịu thuế như mọi hàng nội địa. Phần còn lại của bài là chuyện thủ tục: làm sao chứng minh hàng thuộc nhánh nào, và ai là người nộp.
Ba nhánh của một lô hàng bị trả lại
| Nhánh | Thuế tiêu thụ đặc biệt | Việc cần làm |
|---|---|---|
| Tái nhập rồi tái xuất cho khách khác | Theo nguyên tắc lâu nay: chưa phát sinh, vì hàng vẫn đi ra nước ngoài | Hồ sơ tái nhập, hồ sơ tái xuất, theo dõi kho riêng |
| Tái nhập để tái chế, huỷ | Không phát sinh ở khâu bán vì hàng không được bán | Biên bản huỷ, hồ sơ tái chế, xác nhận của cơ quan liên quan nếu có |
| Tái nhập rồi bán trong nước | Phát sinh khi bán, như hàng sản xuất trong nước | Kê khai thuế tiêu thụ đặc biệt khâu bán, lập hoá đơn nội địa |
Ngoài thuế tiêu thụ đặc biệt, lô hàng tái nhập còn đi qua thủ tục hải quan với thuế nhập khẩu và thuế GTGT khâu nhập khẩu, có những trường hợp được không thu theo quy định về hàng xuất khẩu bị trả lại. Phần đó thuộc thủ tục hải quan; bài này chỉ bàn phần tiêu thụ đặc biệt.
Nhánh bán trong nước: tính thuế thế nào
Khi hàng tái nhập được bán ra trong nước, cơ sở sản xuất (hoặc người có hàng theo quy định) kê khai thuế tiêu thụ đặc biệt giống hàng sản xuất để bán nội địa:
- Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa có thuế GTGT (và chưa có thuế bảo vệ môi trường nếu mặt hàng thuộc diện), theo cách bóc giá quen thuộc chia cho (1 + thuế suất).
- Thuế suất là mức có hiệu lực tại thời điểm bán, không phải mức tại thời điểm sản xuất hay xuất khẩu. Với những mặt hàng có lộ trình tăng thuế theo Luật Thuế TTĐB 66/2025/QH15, lô hàng xuất đi năm trước, quay về bán năm sau có thể chịu mức cao hơn.
- Mức sàn giá tính thuế khi bán qua công ty thương mại liên kết vẫn áp như bình thường.
Nếu hàng bị trả lại vì lỗi và bán trong nước với giá thấp (hàng loại hai, bao bì hỏng), giá tính thuế vẫn là giá bán thực tế, nhưng giá quá thấp so với hàng cùng loại cần có lý do ghi nhận rõ ràng để tránh bị xác định lại.
Khi người xuất khẩu không phải người sản xuất
Ca biên hay gặp: nhà sản xuất bán hàng cho một doanh nghiệp thương mại để doanh nghiệp này xuất khẩu. Nhà sản xuất không tính thuế tiêu thụ đặc biệt vì có hồ sơ chứng minh hàng mua để xuất khẩu. Lô hàng bị trả lại về tay doanh nghiệp thương mại. Ai nộp thuế nếu hàng được bán trong nước?
Theo khung quy định lâu nay, doanh nghiệp mua hàng để xuất khẩu mà không xuất khẩu, hoặc đem tiêu thụ trong nước, thì chính doanh nghiệp đó phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi bán trong nước. Lý do: nhà sản xuất đã bán hàng theo diện không chịu thuế dựa trên cam kết xuất khẩu; khi cam kết không còn, nghĩa vụ chuyển sang bên đã làm thay đổi mục đích.
Vì vậy hợp đồng mua bán giữa nhà sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu nên có điều khoản về hàng bị trả lại: ai nhận lại hàng, ai kê khai nếu bán trong nước, ai chịu phần thuế phát sinh. Hai bên hiểu khác nhau là nguồn tranh chấp phổ biến.
Hàng bán trong nước bị trả lại: nhánh khác hẳn
Đừng nhầm với hàng bán trong nước bị khách trả lại. Ở đây thuế tiêu thụ đặc biệt đã được kê khai khi bán; khi hàng bị trả lại, người bán điều chỉnh giảm doanh thu và số thuế tiêu thụ đặc biệt tương ứng theo hoá đơn điều chỉnh, ở kỳ phát sinh việc trả lại theo hướng dẫn hiện hành.
Hai nhánh khác nhau ở điểm xuất phát:
- Hàng xuất khẩu: lúc đi không tính thuế; lúc về nếu bán trong nước mới tính.
- Hàng nội địa: lúc bán đã tính thuế; lúc trả lại điều chỉnh giảm; bán lại cho khách khác thì tính lại theo lần bán mới.
Kế toán gộp hai loại hàng trả lại vào cùng một tài khoản kho mà không phân biệt nguồn là chỗ dễ khai sai nhất.
Hồ sơ nên giữ cho lô hàng tái nhập
- Hồ sơ xuất khẩu ban đầu: tờ khai hải quan xuất khẩu, hợp đồng, hoá đơn thương mại, chứng từ thanh toán (nếu đã thanh toán).
- Văn bản của khách nước ngoài về việc trả lại: lý do, số lượng, điều kiện.
- Tờ khai tái nhập và chứng từ xác định đây là chính lô hàng đã xuất (mã lô, số seri, nhãn mác).
- Sổ kho riêng cho hàng tái nhập, tách khỏi hàng sản xuất mới.
- Chứng từ nhánh tiếp theo: tờ khai tái xuất, biên bản huỷ, hoặc hoá đơn bán trong nước kèm tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thiếu mắt xích nào, lô hàng có nguy cơ bị xem là hàng không chứng minh được đã xuất khẩu — và bị tính thuế tiêu thụ đặc biệt từ lần bán ban đầu.
Những hiểu lầm hay gặp
- “Hàng đã xuất khẩu rồi thì quay về cũng không phải nộp gì.” Không chịu thuế là do hàng được tiêu dùng ở nước ngoài. Hàng quay về và được bán, tiêu dùng trong nước thì mất lý do đó.
- “Hải quan không thu thuế nhập khẩu lô tái nhập nên cũng không có thuế tiêu thụ đặc biệt.” Việc không thu thuế ở khâu nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu bị trả lại là một quy định riêng của khâu hải quan. Nghĩa vụ tiêu thụ đặc biệt ở khâu bán trong nước vẫn xét theo luật tiêu thụ đặc biệt.
- “Bán rẻ cho nhân viên hàng bị trả lại thì không cần hoá đơn.” Bán cho nhân viên vẫn là bán hàng: phải lập hoá đơn, kê khai tiêu thụ đặc biệt và GTGT. Bán dưới giá thị trường cho người trong công ty còn dễ bị xác định lại giá tính thuế.
- “Huỷ hàng thì tự làm biên bản nội bộ là đủ.” Với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như rượu, thuốc lá, việc huỷ nên có người chứng kiến độc lập, hình ảnh, video và hồ sơ đầy đủ. Hàng “huỷ trên giấy” mà thực tế ra thị trường là rủi ro lớn nhất của cả nhánh này.
- “Tái xuất cho khách khác thì không cần theo dõi riêng.” Không tách kho, không theo dõi số lô thì không chứng minh được hàng tái xuất chính là hàng đã tái nhập.
Bảng tra: nhóm — căn cứ tính — nơi tra mức hiện hành
| Nhóm | Căn cứ tính | Thuế suất | Nơi tra mức hiện hành |
|---|---|---|---|
| Hàng trực tiếp xuất khẩu, bán hoặc uỷ thác để xuất khẩu | — | Không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt | Luật 66/2025/QH15 và văn bản hướng dẫn |
| Hàng tái nhập rồi bán trong nước | Giá bán chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, GTGT | Mức của mặt hàng tại thời điểm bán | Luật 66/2025/QH15, biểu thuế theo lộ trình |
| Doanh nghiệp mua để xuất khẩu nhưng tiêu thụ trong nước | Giá bán trong nước | Mức của mặt hàng tại thời điểm bán | Như trên |
| Hàng nội địa bị khách trả lại | Điều chỉnh theo hoá đơn | Theo thuế suất của lần bán ban đầu | Như trên; quy định về hoá đơn điều chỉnh |
Tự kiểm tra ở đâu
- Hệ thống thông quan của hải quan: đối chiếu tờ khai xuất khẩu và tờ khai tái nhập của cùng lô hàng.
- Tài khoản thuế điện tử: tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt các kỳ, xem kỳ bán hàng tái nhập đã khai chưa.
- Cổng hoá đơn điện tử: hoá đơn bán trong nước của hàng tái nhập, ngày lập, thuế suất tiêu thụ đặc biệt đã tính.
- Cơ quan thuế quản lý: hỏi bằng văn bản khi hàng tái nhập được tái chế thành sản phẩm khác rồi mới bán.
Cách bóc giá tính thuế khi bán qua công ty thương mại có ở bài giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt khi bán qua công ty thương mại.
Câu hỏi thường gặp
Hàng tái nhập chưa bán ngay mà để trong kho vài tháng thì khi nào phải khai thuế?
Thuế tiêu thụ đặc biệt với hàng sản xuất trong nước phát sinh khi bán, giao hàng. Hàng nằm trong kho chưa phát sinh; khi xuất bán kỳ nào thì khai kỳ đó, với thuế suất tại thời điểm bán.
Hàng bị trả lại được tái chế thành sản phẩm mới rồi bán thì tính thế nào?
Sản phẩm mới là hàng sản xuất trong nước, chịu thuế khi bán theo giá bán của sản phẩm mới. Việc khấu trừ thuế tiêu thụ đặc biệt của nguyên liệu (nếu có) theo quy định riêng và cần hồ sơ chứng minh.
Doanh nghiệp xuất khẩu có được bán hàng tái nhập cho doanh nghiệp chế xuất không?
Bán cho doanh nghiệp chế xuất có quy định riêng về việc có được coi là xuất khẩu hay không, tuỳ mục đích sử dụng của bên mua. Cần tra hướng dẫn hiện hành và giữ hồ sơ của bên mua trước khi áp diện không chịu thuế.
Lô hàng chỉ bị trả lại một phần thì xử lý thế nào?
Phần bị trả lại đi theo các nhánh như trên, phần khách giữ lại vẫn là hàng đã xuất khẩu. Cần chứng từ xác định rõ số lượng từng phần để không lẫn trong sổ kho.
Thuế suất tăng giữa lúc xuất đi và lúc về bán trong nước thì áp mức nào?
Áp mức tại thời điểm bán trong nước. Lần xuất khẩu ban đầu không phát sinh thuế nên không có mức nào được “giữ lại” cho lô hàng.